Select Menu

Ads

Random Posts

Được tạo bởi Blogger.

Design

Technology

Circle Gallery

Shooting

Racing

News

Bottom

Giành độc lập được mấy hôm, Trần Dân Tiên (có lẽ là một nhóm, trong đó có hai vị họ Trần thực sự là Trần Huy Liệu và Trần Ngọc Danh) viết ngay một cuốn sách về cuộc đời ông cụ.

Chương I của cuốn sách nói về cậu thiếu niên tên Thành. Ở tuổi mười mấy, anh Thành đã có ý định đi tìm đường cứu nước.

Con người ta lúc thành công thường nói rất hay về khúc khởi đầu của họ.

Việc xuất dương của anh Thành có thể do hoàn cảnh gia đình (các biến cố trong gia đình, cuối cùng là người cha mất việc) cộng với cảm hứng từ phong trào Đông Du.

H1
Trương Duy Toản (trái) và Nguyễn Háo Vĩnh.
Thế nhưng khi anh tới Sài Gòn thì Nhật đã cấu kết với Pháp, dập tắt Đông Du.

Không còn sự lựa chọn nào khác, anh bèn đi phượt tàu thủy. Sau khi học một khóa ngắn hạn tại trường dạy nghề Cơ Khí Á Châu (École des mécaniciens Asiatiques de SaiGon) sau mang tên Cao Thắng/Tôn Đức Thắng, anh Paul Thành (sau này lừng danh qua ngòi bút Trần Dân Tiên với tên gọi anh Ba) đến hãng tàu Chargeurs Reunis đóng trên lầu nhà Grand Hôtel de la Rotonde để xin lên con tàu Amiral Latouche Treville làm rửa bát. (Xem thêm phần Một Góc Phố Đầu Tiên trong Sound of Silence).

Đó là năm 1911.

Trần Dân Tiên cho biết anh Ba đi phượt khá nhiều nơi: Pháp, Bồ Đào Nha và các nước Châu Phi thuộc địa.

Các sách khác của học giả tây còn cho biết anh rất tiết kiệm, dành dụm được cả tiền gửi về cho cha đang lưu lạc Nam Kì.

Quãng 1913-1915 anh sống ở nước Anh. Ở nước Anh, Paul Ba tiếp tục làm nghề lao động phổ thông.

Trong thời gian ở Anh, chàng thanh niên thuộc địa, suốt ngày lao động chân tay, đột nhiên biết tiếng Anh và am hiểu tình hình chính trị thế giới cùng với những nhận định sắc xảo (xem thư Nguyễn Tất Thành từ London gửi cho Phan Chu Trinh ở Paris).

Tôi tin rằng khi ở nước Anh, đã có ai đó vỡ lòng cho anh Ba không chỉ môn tiếng Anh mà còn về Cách mạng Mỹ (thuộc địa Anh giành độc lập, đồng thời xóa bỏ chế độ quân chủ), về quyền con người. Người này có lẽ còn dạy anh Ba nghề báo và hướng anh Ba đi theo con đường hoạt động chính trị chuyên nghiệp.

Giai đoạn ở nước Anh rất quan trọng trong chuyển biến tư tưởng của anh Ba. Trước khi rời Anh đến Pháp và gia nhập nhóm Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, anh Ba đi Mỹ (1916).

Ở Mỹ, anh Ba đã tham dự các hoạt động chính trị của người da màu. Vốn tiếng Anh của anh Ba đã đủ tốt để anh học hỏi các phương pháp đấu tranh và vận động quần chúng từ Marcus Mosiah Garvey.

Garvey, một nhà hoạt động nhân quyền cho người da đen đi từ Jamaica đến New York vào tháng 3 năm 1916, thường thực hiện các buổi diễn thuyết trên đường phố New York vào buổi tối. Anh Ba chắc chắn đã đến nghe. Những kỹ năng diễn đạt với công chúng bình dân thu thập từ New York về sau giúp anh Ba rất nhiều trong hoạt động chính trị và làm cách mạng.

Khi ở Mỹ, nghe tin Cách mạng Nga thành công, anh tìm cách quay về nước Pháp.

Chỉ một thời gian ngắn sau khi đến Pháp (1919) và gia nhập nhóm Phan Văn Trường, anh Ba đã nỗ lực trở thành một nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp và nổi bật.

Mấy chục năm sau nữa, dấu ấn của Cách mạng Mỹ và quyền con người đã xuất hiện ngắn ngủi nhưng rõ nét trong Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tình cảm với Cách Mạng Mỹ trong lòng anh Ba còn ẩn dấu trong những nỗ lực tiếp cận quân đội Hoa Kỳ ở Côn Minh thời tiền khởi nghĩa (xem thêm Trong Vỏ Hạt Dẻ Phần 2).

Mặc dù tài liệu trong tay chưa đủ lắm, tôi vẫn cho rằng, người vỡ lòng cho anh Thành tiếng Anh, Cách Mạng Mỹ, Quyền Con Người … là một thanh niên miền nam, trạc tuổi anh Ba, giỏi giang và yêu nước. Người thanh niên ấy theo hồ sơ mật thám có tên (giả) là Joseph hoặc Thành, còn tên thật (tôi đoán chắc) là Nguyễn Háo Vĩnh. Không chỉ là một người anh em, một mentor cho anh Ba, chàng trai trẻ Nguyễn Háo Vĩnh còn tìm cách ghi danh cho cả hai (như hai anh em ruột Paul Thành và Joseph Thành ) vào học tại London Polytechnic trên phố Regent (nay là University of Westminster).

Phong trào Duy Tân có hai cơ sở quan trọng ở miền nam là Hội khuyến học Cần Thơ và công ty Minh Tân (Nam Kì Minh Tân Công Nghệ Xã) của nhà tư sản Gilbert Trần Chánh Chiếu (cũng là chủ bút Nông Cổ Mín Đàm và Lục Tỉnh Tân Văn).

Công ty Minh Tân tuyển người đưa sang Nhật học nghề, bản chất là đào tạo cán bộ cho Đông Du. Nguyễn Háo Vĩnh sinh năm 1893 (kém anh Ba vài tuổi) có mặt trong nhóm đi Nhật đầu tiên (1905), và là người giỏi nhất. Ở Nam Kì, hoạt động của Trần Chánh Chiếu bị mật thám Pháp phát hiện. Pháp thỏa thuận với Nhật để Nhật trục xuất du học sinh của Đông Du về lại Đông Dương. Bố của Nguyễn Háo Vĩnh cũng là lãnh đạo Đông Du miền nam, nhanh tay rút Nguyễn Háo Vĩnh về Hongkong để tránh bị bắt, đồng thời cho học tiếp tại Saint Joseph Hongkong.

Lúc này hoàng thân Cường Để cũng phải rời Nhật (trục xuất năm 1909). Đi vòng vèo qua Trung Quốc, Hongkong, đến năm 1913 Cường Để bí mật về Nam Kì. Giữa năm 1913 Cường Để trốn qua Hongkong. Chỉ một thời gian ngắn sau đó (tháng 6 năm 1913), cơ sở của Đông Du ở Hongkong bị cảnh sát Anh bố ráp do xưởng sản xuất vũ khí để nổ tạc đạn. Cường Để bị bắt giam vài ngày, sau đó nhờ Nguyễn Háo Vĩnh thuê luật sư mà thoát ra được và đi London. Các đồng chí khác cũng được thả và trục xuất về Nam Kì. Riêng Huỳnh Hưng, chủ nhà mà Đông Du sử dụng làm cơ sở, nhận hết tội về mình nên bị kết án chín tháng tù.

Sau khi tốt nghiệp, Nguyễn Háo Vĩnh dùng tên giả trốn sang London tìm Cường Để. Trong thời gian ở đây anh đã gặp và kết bạn với anh Paul Thành. Năm 1916 khi Thành đi Mỹ còn sau khi nhận bằng cử nhân ngôn ngữ Háo Vĩnh trở lại Hongkong, rồi bị bắt ở đây và đưa về Nam Kì. Tòa án Sài Gòn kết Háo Vĩnh án tử hình, sau được tổng thống Pháp ân xá. Về quê ở với bố là Nguyễn Háo Văn một thời gian, đến năm 1923 Nguyễn Háo Vĩnh lại ra Sài Gòn làm báo và xưởng in. Năm 1928 còn anh còn bị bắt một lần nữa vì tội in truyền đơn.

Cũng thời gian này, Gilbert Trần Chánh Chiếu bị Pháp bắt hai lần, năm 1908 (do có quan hệ với Đông Du) và năm 1917 (do tài trợ cho Phan Xích Long). Trần Chánh Chiếu cũng tham gia dịch văn học (dịch Dumas) và sáng tác (truyện Lâm Kim Liên).

Từ khi lên Sài Gòn làm báo cho đến cuối đời, Nguyễn Háo Vĩnh làm chủ báo Nam Kì Kinh Tế Báo và Hoàn Cầu Tân Văn; làm chủ xưởng in Xưa Nay. Vốn thạo tiếng Anh, ông đã dịch sang chữ quốc ngữ kịch của Shakespeare (Hamlet, Romeo Juliet …), viết sách khoa học thường thức (Cách vật trí tri, Càn khôn lý học sơ giải …), viết sách lịch sử thế giới (Chuyện vạn quốc).

Thi thoảng máu cách mạng dâng cao, ông còn bút chiến. Hà Hương Phong Nguyệt (sách hoa tình khiêu dâm đầu tiên bằng chữ quốc ngữ) bị ông đánh dữ quá nên chính quyền Pháp phải tịch thu mà đốt đi.

Là người yêu nước và yêu Cách Mạng Mỹ, và có lẽ nhớ người bạn tên Thành từ lúc chia tay nhau qua Mỹ, đến lúc này không biết ở đâu, ông Vĩnh đặt tên con gái là Nguyễn Triệu Ẩu và Nguyễn Háo Thạnh Đốn.

Nguyễn Háo Vĩnh, nhân vật Đông Du kiệt xuất trong không gian hẹp, chết năm 1941 ở Thủ Đức. Ông cũng không biết anh Thành ngày xưa đã dựng nên ĐCS từ tro tàn của Tâm Tâm Xã, một tổ chức phái sinh của Đông Du bên Trung Quốc. Ông không có cơ hội nhìn thấy ngày Độc Lập và người anh em thời Đông Du xa xưa của mình lên làm chủ tịch nước.

Tất nhiên Nguyễn Háo Vĩnh không bao giờ có cơ hội đọc trước tác của Trần Dân Tiên.

Một trăm năm sau khi em Vĩnh và anh Thành chia tay nhau ở London (1915-2015), hiện tượng Đông Du Miền Nam gần như đi vào quên lãng.

***

Những du học sinh đầu tiên, cũng là nhóm thanh niên Đông Du Miền Nam đầu tiên, chủ yếu là con nhà giàu, hoặc cực giàu. Nhiều người là Minh Hương.

Hai anh em Lâm Cần, Lâm Tỷ con ông Lâm Bình nhà cực giàu. Lâm Tỷ học tiếng Anh giỏi, sau đi London làm phiên dịch cho đức Cường Để. Cùng đi còn có Đỗ Văn Y làm phiên dịch tiếng Đức. Sau cả cả hai phiên dịch cùng qua Đức với Cường Để.

Cảnh sát Anh nhầm Joseph Thành với Lâm Tỷ (Lâm Văn Tú). Sự thực Joseph Thành là Háo Vĩnh, sau bị bắt khi từ Anh trở về Hồng Kông.

Năm 1920, khi mật thám Pháp phát hiện ra Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Tất Thành, họ dò lại quan hệ của Thành với Đông Du ở London và đã nhầm Joseph Thành với Lâm Tỷ.

Huỳnh Hưng (Huỳnh Văn Nghi), đồng hương với hai anh em Lâm Tỷ, là người đưa các đồng chí Đông Du qua Hongkong để tổ chức kháng chiến theo kiểu bạo động, dẫn đến vụ nổ tạc đạn tại cơ sở do Huỳnh Hưng đứng tên thuê (là một tòa nhà 4 tầng lớn).

Trừ Huỳnh Hưng bị kết án ở Hongkong, các vị còn lại bị đưa về Hà Nội cho Hội Đồng Đề Hình kết án. Nguyễn Thần Hiến chết trong tù Hà Nội.

Cùng quê với Lâm Tỷ còn có Trương Duy Toản. Từ London, Cường Để đi Đức cùng Đỗ Văn Y và Trương Duy Toản để mượn Đức (như từng mượn Nhật) chống lưng đánh Pháp. Từ Đức, Cường Để gửi thư cho chính phủ Pháp, cử Trương Duy Toản và Đỗ Văn Y đi Paris gặp Phan Chu Trinh. Lúc này Pháp Đức bắt đầu đánh nhau. Phan Chu Trinh, Trương Duy Toản, Đỗ Văn Y đều bị bắt, ra tòa và kết án tù. Một số lá thư của Paul Thành gửi từ London cho Phan Chu Trinh sau khi ông này bị bắt, đã bị mật thám Pháp thu được. Sau 2 năm ngồi tù, được thả tự do, ai về chỗ cũ, Phan Chu Trinh ở lại Paris, Trương Duy Toản và Đỗ Duy Y bị đưa lên tàu chở về Sài Gòn. Sau một thời gian bị an trí ở Cần Thơ, Trương Duy Toản được Gilbert Chiếu đưa trở lại Sài Gòn làm nghề báo.

Trần Thị Quỳ, con gái Trần Phước Định, có thể coi là nữ du học sinh đầu tiên. Cô bị bắt ngay khi về đến Nhà Rồng (từ Quảng Châu, nơi lúc đó Phan Bội Châu đang sống, về Sài Gòn). Không bị kết án nhưng bị nguyệt –điểm (mỗi tháng đến trình diện một lần), cho đến năm 1913 cô tham gia Phan Xích Long thì bị bắt lần nữa. Chồng cô Quỳ là Huỳnh Hữu Chí, cũng là chiến sĩ Đông Du hoạt động ở Quảng Châu và Hongkong.

Trần Phước An đi Nhật theo Đông Du. Lấy vợ Nhật nên khi Nhật trục xuất Đông Du vẫn được ở lại. Khi Nhật đánh Trung Quốc, Trần Phước An đi theo quân đội Thiên Hoàng, tham gia thành lập Kiến Quốc Quân cùng chỉ huy Trần Trung Lập, đánh Pháp ở Lạng Sơn. Sau thất bại, một lần nữa nhờ có quốc tịch Nhật mà Trần Phước An thoát chết. Cuối cùng mật thám Pháp phải tìm cách ám sát Phước An ở Quảng Châu.
Tháng 8 năm 1916, chủ của tờ L’opinion ở Sài Gòn là Lucien Héloury mở thêm tờ quốc ngữ là Công Luận Báo. Cây bút chính của tờ này là Hồ Văn Trung, một phiên dịch công chức, và còn rất nổi tiếng với tên Hồ Biểu Chánh.

Sau Hồ Văn Trung, vốn khéo léo tránh đối đầu với chính quyền thực dân và lách kiểm duyệt, cây bút sau sau của tờ báo là Cao Văn Chánh thường viết bài chống chính quyền và cứng rắn hơn Trung nhiều. Cao Văn Chánh ra nhập tờ báo năm 17 tuổi. Cao Văn Chánh và Nguyễn Háo Vĩnh là hai nhà báo chính trị cứng đầu và là cặp bài trùng chống đối chính quyền Sài Gòn vào thời gian này.

Khi Công Luận Báo có xu hướng chính trị và cổ súy tinh thần độc lập dân tộc mạnh mẽ hơn, một cây bút chính trị cứng rắn khác vốn chỉ viết tiếng Pháp là Tự Do (Huỳnh Văn Chính) về làm chủ nhiệm báo. Huỳnh Văn Chính vốn có tư tưởng nổi loạn khi còn là sinh viên Đông Dương Học Xá ở Hà Nội và bị đuổi học.

Tự Do lập tức đưa Nguyễn Háo Vĩnh lên về làm chủ bút. Công Luận Báo công khai chống lại thống đốc Nam Kì.

Tháng 11 năm 1923, Nguyễn Háo Vĩnh mua lại tờ Nam Kì Kinh Tế Báo của bà Rose Quaintanne, rồi cùng Cao Văn Chánh (lúc này 20 tuổi và làm chủ biên) biến tờ báo thành cơ quan ngôn luận chống thực dân, tẩy chay hàng của người Hoa. Nam Kì Kinh Tế Báo cũng là tờ báo đầu tiên thúc đẩy nữ quyền.

Nguyễn Háo Vĩnh và Cao Văn Chánh là thế hệ nhà báo quốc ngữ thứ hai ở Sài Gòn. Sau Gilbert Trần Chánh Chiếu, Hồ Văn Trung (Hồ Biểu Chánh), Nguyễn Chánh Sắt và Lê Hoàng Mưu (tác giả Hà Hương Phong Nguyệt), thế hệ Háo Vĩnh bắt đầu từ bỏ đường lối ôn hòa để chuyển qua phản biện chính trị với văn phong trực diện và cực đoan hơn. Đối tượng độc giả mà họ nhắm vào là những người được giáo dục cao hơn , có ý thức chính trị hơn.

Đầu những năm 1920, chính quyền thực dân ở Sài Gòn có ý định cho một tập đoàn Pháp độc quyền đầu tư và khai thác cảng Sài Gòn trong một quãng thời gian 15 năm, hai tờ báo quốc ngữ có liên quan đến Nguyễn Háo Vĩnh và Cao Văn Chánh là Công Luận Báo và Nam Kỳ Kinh Tế Báo đã phản đối quyết liệt.

Dự án độc quyền cảng Sài Gòn, còn được gọi là dự án Candelier (theo tên kiến trúc sư trưởng của dự án này) do Hội đồng quản hạt Nam Kì mà thực chất là do thống đốc Nam Kì lúc đó Maurice Cognacq rất tham lam tàn ác đứng bảo kê. Cognacq tham lam tàn ác theo nghĩa đen. Báo Pháp ngữ thời đó gọi tay này là thối nát.

Dự án cảng Sài Gòn tóm tắt như sau. Hội đồng thương cảng (Conseil du Port) là một tổ chức hỗn hợp thay mặt nhà nước thuộc địa quản lý cảng Sài Gòn. Hội đồng này cho một tập đoàn Pháp đầu tư và độc quyền khai thác Cảng và toàn bộ hai con kênh vận tải kết nối Cảng tới vùng Chợ Lớn (Kênh Tàu Hũ, nay chính là trục đại lộ Đông Tây). Toàn bộ chiều dài kênh khoảng gần 20 km (tính cả hai bên bờ sẽ khoảng 40km). Thời gian khai thác là 15 năm. Về cơ bản, nếu được phép đầu tư, tập đoàn Pháp kia sẽ độc quyền xuất nhập khẩu cho toàn bộ nền kinh tế Nam Kì.

Báo chí Pháp ngữ và quốc ngữ chia phe chống và ủng hộ. Dần dần leo thang. Các nhóm xã hội, từ nhà báo, dân buôn, tới trí thức cũng bị chia rẽ thành hai phe ủng hộ độc quyền và chống độc quyền. Chia rẽ lan dần tới giới chính trị. Hội đồng quản hạt Nam Kì cũng bị chia rẽ vì dự án đầu tư này. Cuối cùng luật sư Paul Monin qua Pháp vận động nghị viện Pháp bác bỏ giấy phép đầu tư của Hội đồng quản hạt Nam Kì cấp cho dự án Candelier.

Cuộc chiến báo chí dữ dội xung quanh dự án độc quyền Cảng Sài Gòn đã đưa đẳng cấp báo chí quốc ngữ chống đối chính trị (đằng sau kinh tế) của Sài Gòn lên một đẳng cấp mới. Cùng lúc nó khẳng định phẩm chất chính trị vượt ra khỏi tầm vóc thuộc địa của một trí thức du học Anh quốc trở về: Nguyễn Háo Vĩnh. Đồng thời giới thiệu cây bút trẻ Trần Huy Liệu và một ngôi sao độc đáo: Nguyễn An Ninh và tờ Chuông Rè La Cloche Fêlée (xem Trong Vỏ Hạt Dẻ Phần 1).
Từ một người hoạt động cho hội kín, Nguyễn Háo Vĩnh trở thành nhà báo chính trị ái quốc, chống thực dân bằng ngòi bút. Ở một đẳng cấp rất khác với người đương thời, ngòi bút của Háo Vĩnh chống thực dân không chỉ bằng cách gây dựng tự chủ dân tộc, thoát khỏi cái bóng Trung Hoa và hướng về Thái Tây (tức Châu Âu và trong đó có nước Anh ông đặc biệt ưa thích), mà còn đặt việc chống thực dân ở Annam vào bối cảnh và tầm nhìn chính trị quốc tế rộng lớn.

Cây bút trẻ Trần Huy Liệu bắt đầu viết cho Nam Kì Kinh Tế Báo dưới sự dìu dắt của Nguyễn Háo Vĩnh. Khi cứng cáp hơn và nổi tiếng hơn nhờ tính chiến đấu, Liệu vào Sài Gòn và làm chủ bút Đông Pháp Thời Báo (1925).

Ông Liệu này với ông Liệu ở đầu bài viết, hai ông là một.

Blog 5xu
3-9-2015

(Blog 5xu)

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (Ảnh chụp từ trang web datviet.vn)
                         Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (Ảnh chụp từ trang web datviet.vn)

Trong vài ngày qua, sóng gió bắt nguồn từ bài phỏng vấn “Hoàng Phủ Ngọc Tường: Đùa thôi nhé, thiên đường mộng ảo” của Nguyễn Đức Tùng tưởng đã dịu xuống, nhưng mà không. Ai cũng có nhiều điều muốn nói. Tôi cũng vậy, cũng có những suy nghĩ, nhận định về những điều được viết ra hoặc hàm chứa trong đó. Nhưng thay vì nói hết (và trở thành... nói nhiều), tôi muốn chia sẻ một vài điều mà tôi cho là vô cùng quan trọng.

Có vẻ như điều duy nhất đáng kể ở đây đối với tất cả mọi người là hành tung của Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) trong cuộc tổng công kích tết Mậu Thân ở mặt trận Huế. “Mọi người” ở đây gồm có những người tin rằng HPNT có nhúng tay vào sự kiện thảm sát Mậu Thân và những người đã và đang nỗ lực bào chữa cho ông. Làm như thể việc HPNT có mặt ở Huế vào thời điểm đó có thể quyết định được HPNT có tội hay vô tội!

Có những điều rõ ràng như con voi khổng lồ đi tới đi lui trong phòng mà chẳng ai quan tâm. Con voi của chúng ta xuất hiện dưới dạng một câu hỏi, "Tại sao HPNT và những người bênh vực ông đã một cách cuồng nhiệt muốn chứng minh sự khiếm diện của HPNT vào những ngày tết Mậu Thân ở Huế?” Đây không hề là một câu hỏi hóc búa, và ai cũng có thể trả lời được. Bởi vì vào thời điểm đó, Huế là hiện trường của tội ác, một crime scene, mà xét về mọi phương diện, đã khiến cho tội ác của William Calley Jr. trong vụ tàn sát Mỹ Lai trở thành một cái bóng xanh xao mờ nhạt bên cạnh nó. Nói cách khác, thảm sát Mậu Thân là tội ác chiến tranh lớn nhất của cuộc chiến tranh được gọi là “Vietnam War” hay “Chiến tranh chống Mỹ” hay “Cuộc Nội chiến” tùy thuộc vào việc ai là người đang phát ngôn. Số lượng người bị giết, địa vị xã hội và quan hệ của họ với chính quyền miền Nam, và tư thế bất bình thường của tử thi tìm thấy trong các hố chôn tập thể cho thấy đây là một cuộc tàn sát có dự mưu, khiến cho tội ác chiến tranh này trở nên trầm trọng hơn.

Làm thế nào để HPNT một mình có thể gồng gánh nổi cái tội ác này? Không thể trách HPNT nếu ông đã tìm đủ mọi cách để chứng minh là mình đã không có mặt ở đó, đã không hề nhìn thấy tận mắt cái tội ác đã diễn ra ở cố đô của nhà Nguyễn. Chính điều này, nỗ lực chứng minh sự vắng mặt của mình trong đợt Tổng công kích Tết Mậu Thân ở Huế là bằng chứng hiếm hoi nhưng đầy thuyết phục do chính HPNT và phe “cách mạng” cung cấp về sự hiện hữu của cái tội ác khủng khiếp này.

Nhưng liệu sự vắng mặt mà HPNT và những người bào chữa cho ông luôn muốn chứng minh, có giúp “gỡ” HPNT ra khỏi sự dính líu với cái tội ác này hay không? Câu trả lời đến nhanh và dứt khoát: không! Vấn đề còn lại là mức độ của dính líu và ý thức trách nhiệm của ông ta.

Về mức độ dính líu, không hề dễ dàng để xác định. Tất nhiên, đối với nhiều người, cả bênh lẫn chống HPNT, đều muốn dựa trên việc ông có mặt hay không ở Huế, hiện trường tội ác, để gán hết trách nhiệm lên hoặc rửa sạch hết mọi tội lỗi cho HPNT. Cách này có thể đưa đến ít nhất hai sai lầm về mặt phán xét. Trước hết, một người không nhất thiết phải có mặt ở hiện trường để thực hiện và chịu trách nhiệm về một tội ác nào đó. Không phải tất cả những người bị lên án tử hình ở tòa án Nuremberg đều đã tự tay giết người hàng loạt. Họ bị kết án vì vai trò của họ trong việc thiết kế hoặc cho phép thực hiện những kế hoạch, chương trình đưa đến những tội ác khủng khiếp nhất trong Thế chiến II. Nhìn được điều này, chúng ta sẽ thấy việc HPNT có mặt hay không ở Huế vào thời điểm tội ác diễn ra, tuy quan trọng, nhưng không đủ quan trọng để quyết định mức độ dính líu của ông.

Như đã đề cập ở một phần trước, rất nhiều bằng chứng cho thấy cuộc tàn sát ở Huế trong dịp Tết Mậu Thân là kết quả của một kế hoạch soạn sẵn, mặc dù chúng ta không thể khẳng định có kèm theo chỉ thị “giết lầm hơn bỏ sót” hay không. Câu hỏi về vai trò của HPNT trong cái kế hoạch loại trừ “kẻ thù của nhân dân” như là một phần của chiến dịch tổng công kích Mậu Thân ở Huế không dễ trả lời. Điều chúng ta biết chắc là ông ta không phải là người ở vị trí chỉ huy, không phải là đảng ủy hoặc là tư lệnh tối cao của mặt trận Huế /Thừa Thiên cho nên cần phải loại bỏ cái khả năng “HPNT trực tiếp ra lệnh giết người hàng loạt.”

Trong phần trích dẫn bài phỏng vấn dưới đây, HPNT xác nhận sự bất lực của mình:

Nguyễn Đức Tùng: Nếu trong Tết Mậu Thân anh được cử về thành thì anh sẽ làm gì, có thái độ như thế nào trước những vụ giết người?

Hoàng Phủ Ngọc Tường: Tôi sẽ không làm gì được, nhưng tôi biết chắc là tôi sẽ không giết người …

Câu hỏi kế tiếp: HPNT đã có những đóng góp nào trong việc giúp thiết kế, phổ biến, và thực hiện kế hoạch giết người hàng loạt nói trên ở vị trí Tổng thư ký của Liên minh Dân tộc Dân chủ và Hòa bình, một tổ chức tay sai của cái tổ chức tay sai Mặt trận Giải phóng miền Nam (MTGPMN)? Tất nhiên là những người có cảm tình với HPNT sẽ bảo là không, hoàn toàn không. Còn những người khác thì sẽ xác quyết rằng HPNT là kiến trúc sư của cái kế hoạch sát nhân này! Còn tôi? Tôi sẽ để mặc họ tranh cãi với nhau và tiếp tục với công việc của mình.

Tôi có một câu hỏi rất nhẹ nhàng và rất dễ trả lời. HPNT có biết gì về kế hoạch này trước hoặc/và trong hoặc/và sau khi cuộc thảm sát xảy ra?
Thật ra thì đích thân HPNT đã trả lời câu hỏi này, nhiều lần ở nhiều thời điểm khác nhau. Có thể tìm thấy câu trả lời trong lần phỏng vấn năm 1982 do hệ thống WGBH Boston thực hiện, trong đó HPNT đã phô diễn nhiều lần kiến thức của mình trong việc “trừng phạt” những người có nợ máu với nhân dân và gần đây nhất, trong bài phỏng vấn của Nguyễn Đức Tùng, ở phần trích dẫn dưới đây:

[…] Còn riêng trong vụ Mậu Thân thì giết lầm rất nhiều. Ví dụ như tôi nhớ rằng trong mặt trận Huế có phân công cho một người là ông… tỉnh đội trưởng nắm giữ mặt trận phía trái, phụ trách vùng Phú Cam. Họ giết người nhiều ở mặt trận này.

Kết luận, HPNT biết về kế hoạch giết người có dự mưu này, trước, trong, và sau khi cuộc thảm sát xảy ra.

Và tôi có cơ sở để tin rằng ông, cùng với nhiều người khác, phải gánh chịu một phần trách nhiệm cho tội ác chiến tranh này.

Trách nhiệm nào? Bạn hỏi.

Đây là một câu hỏi kịp thời và cần thiết.

Ở phần trên tôi đã đưa ra một luận cứ để bác bỏ việc HPNT có khả năng ra lệnh giết người hàng loạt. Riêng việc HPNT có giữ bất cứ vai trò nào trong kế hoạch thủ tiêu hàng ngàn người hay không vẫn chưa ngã ngũ. Cho đến khi mọi việc rõ trắng đen, tôi từ chối lên án HPNT như là người chủ mưu hoặc giúp tạo điều kiện cho thảm sát Mậu Thân xảy ra.

Nhưng HPNT không thể nào trốn tránh trách nhiệm như là một đồng lõa trong thảm án Tết Mậu Thân. Ông đã biết được rất sớm và rất chính xác về kế hoạch giết người hàng loạt này nhưng đã chọn không sử dụng quyền hạn của mình để ngăn chặn những cuộc hành quyết trước và trong khi chúng xảy ra. Ông đã không động một móng tay để cứu vớt chỉ một hoặc hai mạng thường dân vô tội. Khi cuộc thảm sát chấm dứt, ông đã tận dụng các cơ hội được tiếp xúc với các cơ quan truyền thông quốc tế để bằng mọi cách biện minh và che đậy tội ác của phe chiến thắng, đánh tráo sự thật bằng cách đổ lên đầu quân dân miền Nam tất cả những tội lỗi do phe ông gây ra. Bằng cách đó, ông ngụy tạo vật liệu cho phe thắng trận đánh tráo lịch sử, tiêm nọc độc vào mạch văn hóa của dân tộc, di hại đến đời con đời cháu. Và ông kéo dài nỗi thống khổ của thân nhân của hàng ngàn nạn nhân vô tội của Tết Mậu Thân bằng cách từ chối giúp họ viết ra chương cuối cùng để đóng lại tấn thảm kịch này.

Tội ác và trừng phạt diễn ra dưới nhiều hình thức. Tôi cho rằng cái cơ hội có một tòa án về tội ác chiến tranh được dựng lên cho vụ thảm sát Mậu Thân sẽ vô cùng mong manh, ít ra là trong một tương lai có thể nhìn thấy được. Tòa án công luận về thảm sát Mậu Thân thì đã diễn ra từ lâu, đặc biệt trên liên mạng, nơi Wikipedia tiếng Việt và tiếng Anh được nhà cầm quyền Hà nội, với nguồn tài nguyên vô tận từ mồ hôi nước mắt của nhân dân, sử dụng để gieo rắc điều trá ngụy nhằm gỡ tội cho phe mình.

Chỉ còn lại một thứ tòa án mà chúng ta có thể đặt vào đó một chút xíu hy vọng sẽ nhìn thấy hồi kết cuộc, tòa án của lương tri. Điều bất tiện là chúng ta, ở vị trí người quan sát, không thể tham dự vào phiên tòa này. Nó diễn ra ở một nơi chúng ta không len vào được, vào những thời khắc u ám, tối tăm trong đời sống của người đang đứng trước vành móng ngựa. Đó là bị can. Cũng là luật sư. Cũng là quan tòa. Tất cả chỉ là một người, đơn độc đối diện với lương tâm của chính mình!

Chúng ta kỳ vọng gì ở tòa án của lương tâm? Ít nhất là hai điều.
Một, hóa giải phần nào những nọc độc văn hóa mà phe thắng trận đã không ngừng bơm vào mạch máu dân tộc qua những nỗ lực “chế tạo lịch sử” với những chất liệu của trá ngụy trong hơn nửa thế kỷ. Thủ phạm chân chính của vụ thảm sát Mậu Thân cần được phô bày, lịch sử cần được viết lại với sự thật do những người trong cuộc tiết lộ và công nhận.

Hai, mọi thảm kịch đều cần thiết phải được khép lại với sự minh bạch về nguyên nhân, hậu quả của sự kiện để giảm bớt nỗi thống khổ của người còn lại. Nạn nhân của vụ thảm sát, lên đến hàng ngàn, không chỉ là mớ xương khô rời rã sau nhiều năm tháng. Vẫn còn đó những mảnh sọ vỡ nát, những cánh tay bị trói giật cánh khuỷu, những hơi thở bị đẩy ngược lại vào lồng ngực bởi đất đá đổ xuống cái hố chôn tập thể trong ký ức không thể xóa đi của người ở lại. Còn đó là nỗi oan khuất buộc phải nuốt ngược vào lòng, và cùng với nó, những giọt lệ phẫn uất chảy lặng lẽ trong hơn 40 mươi năm dài.

Một chương mới cần được mở ra, không phải để kết thúc mà để bắt đầu cho một chung cuộc của thảm kịch Mậu Thân. Và khả năng mở ra chương sách này tùy thuộc vào kết quả của phiên tòa đơn độc mà HPNT và những HPNT đang phải đối diện.

Những ý tưởng này được viết ra trong khi có tin tình hình sức khỏe của HPNT đang suy sụp. Tôi chân thành mong ông sớm hồi phục và giữ được minh mẫn cho đến cuối đời. Bởi vì ông còn có việc phải làm.

Phùng Nguyễn Blog

(VOA)
                              Nhiều sinh viên Mỹ không biết nhiều về cuộc chiến Việt Nam

Một đại học ở bang Virginia, Hoa Kỳ chiếu các phim về Cuộc chiến Việt Nam đánh dấu 50 năm sự tham dự của Mỹ.

Phim đầu tiên, 'A Bright Shining Lie', từng được dịch là 'Sự lừa dối hào nhoáng', sẽ được chiếu vào tối 9/9 tại trường Robins School of Business của trường University of Richmond thuộc tiểu bang Virginia, theo báo địa phương Richmond Times Despatch.

Trong Nội chiến Hoa Kỳ vốn kết thúc cách đây 150 năm, Virginia là bang ranh giới giữa hai miền nam, bắc Mỹ và hiện cờ của phe bại trận vẫn được treo ở bang này.

A Bright Shining Lie, phim kể về một người lính Mỹ bất đồng quan điểm với cấp trên về cách tiến hành chiến tranh và đã buộc phải rời quân ngũ, nằm trong số một loạt phim sẽ được chiếu miễn phí cho cả sinh viên và công chúng Mỹ.

Phim do Terry George đạo diễn và các ngôi sao Bill Paxton, Bo Eason và William L. Mansey nhập vai.

Phóng viên chiến trường từng đoạt giải Pulitzer Prize, ông Peter Arnett, sẽ tới bình luận về phim được chiếu tối thứ Tư này, theo báo địa phương.

Ghi dấu 50 năm

"Cuộc chiến Việt Nam bắt đầu cách đây 50 năm và chúng tôi nghĩ đây là lúc thích hợp để cho các sinh viên hiểu về cuộc chiến, mà đối với hầu hết trong số họ, xa xôi như Cuộc chiến Crimea," ông Robert Hodierne, trưởng khoa báo chí và là người tổ chức sự kiện, được dẫn lời nói.

                            Năm 2015 cũng đánh dấu 40 năm kết thúc Cuộc chiến Việt Nam

Ông Hodierne cũng từng là phóng viên nhiếp ảnh đưa tin về Cuộc chiến Việt Nam.

"Chúng tôi nghĩ rằng đây cũng là cách hay để người dân trong cộng đồng, bao gồm cả các cựu binh, trao đổi với các sinh viên về cuộc chiến mà những tổn thất và bài học vẫn có giá trị cho ngày nay," ông Hodierne nói tiếp.

Ngoài phim 'Sự lừa dối hào nhoáng', hai phim 'Chúng ta là lính' và 'Chúng ta từng là lính trẻ' cũng nằm trong số phim sẽ được chiếu trong dịp này.

Năm nay cũng đánh dấu 40 năm kết thúc Cuộc chiến Việt Nam.

(BBC)

Tiếng ta còn thì nước ta còn!

Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1- Đồng hóa tự nhiên, tức quá trình dân tộc A trong giao tiếp với dân tộc B, do chịu ảnh hưởng lâu dài của B mà A tự nhiên dần dần mất bản sắc của mình, cuối cùng bị B đồng hóa; đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2- Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc nhỏ yếu hơn chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của một dân tộc lớn mạnh hơn; đây là một tội ác.

Đồng hóa dân tộc chủ yếu diễn ra dưới hình thức đồng hóa văn hóa, trong đó chủ thể đồng hóa thường là một nền văn hóa mạnh và tiên tiến (như đông dân hơn, kinh tế phát triển hơn, đã có chữ viết, có các hệ tư tưởng), đối tượng đồng hóa thường là nền văn hóa yếu và lạc hậu hơn. Đồng hóa ngôn ngữ là công cụ đồng hóa văn hóa thông dụng nhất, quan trọng nhất, hiệu quả nhất. Một dân tộc bị mất tiếng nói mẹ đẻ của mình và phải nói tiếng của một dân tộc khác thì không còn giữ được bản sắc dân tộc nữa.

Trong lịch sử, các nền văn hóa yếu thường bị nền văn hóa mạnh đồng hóa. Thời cổ, Trung Quốc là quốc gia đông người nhất và có nền văn minh tiên tiến nhất châu Á. Nền văn hóa Hán ngữ của họ có sức đồng hóa rất mạnh. Dân tộc Hồi ở phía Tây nước này, ngày xưa dùng chữ A Rập, sau nhiều năm giao lưu với người Hán cũng toàn bộ dùng chữ Hán và nói tiếng Hán. Ngay cả các dân tộc nhỏ nhưng mạnh về quân sự, sau khi thôn tính và thống trị Trung Quốc được ít lâu cũng bị nền văn hóa Hán ngữ đồng hóa.

Thí dụ dân tộc Mãn sau khi chiếm Trung Quốc và lập triều đại nhà Thanh đã lập tức tiến hành đồng hóa dân tộc Hán: cưỡng bức đàn ông Hán phải cạo nửa đầu và để đuôi sam, phải bỏ chữ Hán mà chỉ dùng chữ Mãn làm chữ viết chính thức trên cả nước. Nhưng đến giữa đời Thanh, tức sau khoảng 100 năm thì tiếng Mãn cùng chữ Mãn đều biến mất, từ đó trở đi người Mãn chỉ dùng tiếng Hán và chữ Hán, nghĩa là họ lại bị đồng hóa ngược bởi chính nền văn hóa của dân tộc bị họ cai trị lâu tới 267 năm!

Các nước đế quốc thực dân sau khi chiếm thuộc địa đều cưỡng chế đồng hóa ngôn ngữ dân bản xứ, quá trình này diễn ra khá nhanh, nhìn chung sau 5-6 thế hệ (mỗi thế hệ 25 năm), tiếng nói của người bản xứ đã bị thay bằng ngôn ngữ của nước cai trị. Đầu thế kỷ XV, Brazil bị Bồ Đào Nha chiếm, chẳng bao lâu tiếng Bồ trở thành ngôn ngữ chính thức duy nhất của người Brazil. Nhiều thuộc địa Pháp ở châu Phi như Bénin, Togo, Sénegan… dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính duy nhất. Năm 1918 nước ta bắt đầu dạy tiếng Pháp ở lớp cuối tiểu học, 10-20 năm sau toàn bộ học sinh trung học cơ sở trở lên đến trường đã chỉ nói tiếng Pháp, giáo viên chỉ giảng dạy bằng tiếng Pháp. Nếu cứ thế dăm chục năm nữa thì có lẽ Việt Nam đã trở thành nước nói tiếng Pháp.

Thế nhưng sau hơn 1.000 năm bị bọn phong kiến người Hán thống trị và cưỡng bức đồng hóa, dân tộc Việt Nam vẫn không bị Hán hóa, vẫn giữ nguyên được nòi giống, tiếng nói và phong tục tập quán.

Đây quả là một điều kỳ diệu có lẽ chưa dân tộc nào khác làm được. Đáng tiếc là chưa thấy nhiều người quan tâm nghiên cứu vấn đề này, một thành tựu vĩ đại đáng tự hào nhất của dân tộc ta (nói cho đúng là của tổ tiên ta thôi, còn chúng ta bây giờ thua xa các cụ).

Vì sao tổ tiên ta có thể làm được kỳ tích ấy ? Có người nói đó là do dân ta giàu tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, xã hội có cơ chế làng xã bền chặt, v.v… Nói như vậy có lẽ còn chung chung, nếu đi sâu phân tích tìm ra được nguyên nhân cụ thể thì sẽ giúp ích hơn cho việc phát huy các truyền thống quý báu của dân tộc ta. Thực tế cho thấy tổ tiên ta giành được thắng lợi chống đồng hóa không phải bằng đấu tranh vũ trang mà chủ yếu bằng tài trí.

Xin nói thêm rằng chính người Trung Quốc cũng rất quan tâm vấn đề này. Chúng tôi đã thử nêu lên mạng Bách Độ (Baidu) của họ câu hỏi “Vì sao Trung Quốc thống trị Việt Nam hơn 1.000 năm mà Việt Nam không bị đồng hóa?”

Từ hàng triệu kết quả, có thể thấy đa số dân mạng Trung Quốc đều có chung một thắc mắc lớn: Vì sao bị Trung Quốc thống trị lâu thế mà người Việt Nam vẫn không nói tiếng Trung Quốc? Nói cách khác, họ coi đồng hóa ngôn ngữ là tiêu chuẩn đồng hóa quan trọng nhất và đều thừa nhận Trung Quốc đã không đồng hóa nổi Việt Nam. Họ tỏ ra tiếc nuối về sự kiện Việt Nam sau hơn 10 thế kỷ từng là quận huyện của Trung Quốc, từng dùng chữ Hán hàng nghìn năm mà rốt cuộc lại trở thành một quốc gia độc lập, dùng chữ Latin hóa, ngày nay là nước chống lại mạnh nhất chính sách xâm lấn Biển Đông của Bắc Kinh.

Do hiểu biết Việt Nam rất ít, thậm chí hiểu sai, hầu hết dân mạng Trung Quốc không tìm được lời giải thắc mắc trên, kể cả người tỏ ra am hiểu lịch sử nước ta. Họ nêu các lý do:

– Văn hóa Việt Nam có trình độ Hán hóa cao(?), người Việt rất hiểu và không phục Trung Quốc;

– Việt Nam ở quá xa Trung nguyên, khí hậu nóng, quan lại người Hán ngại sang Việt Nam làm việc, đã sang thì chỉ lo làm giàu, không lo đồng hóa dân bản xứ;

– Các nhân vật tinh hoa Trung Quốc như Lưu Hy, Hứa Tĩnh, Hứa Từ, Viên Huy (劉熙、許靖、許慈、袁徽) chạy loạn sang Việt Nam đã giúp nước này có nền văn hóa không kém Trung Quốc;

– Người Hán di cư đến Việt Nam đều bị người bản xứ đồng hóa v.v…

Nói chung họ đều chưa thấy, hay cố ý lờ đi nguyên nhân chính là ở tài trí của người Việt.

Nhưng họ nói người Việt Nam hiểu Trung Quốc là đúng. Do sớm hiểu rõ ý đồ thâm hiểm của phong kiến người Hán muốn đồng hóa dân tộc ta nên tổ tiên ta đã kịp thời đề ra đối sách. Cụ thể là đã tìm ra cách giữ gìn được tiếng nói của dân tộc mình trong quá trình bị bọn thống trị người Hán cưỡng bức học chữ Hán.

Mấy nghìn năm sau, một học giả lớn của dân tộc ta tóm tắt bài học lịch sử này trong một câu nói rất chí lý: “Tiếng ta còn thì nước ta còn!”

Sau khi chiếm nước ta (203 tr. CN), Triệu Đà đã ép buộc dân ta học Hán ngữ, nhằm đồng hóa họ bằng ngôn ngữ. Có lẽ đây là thời điểm muộn nhất chữ Hán vào nước ta.[1] Sách “Việt giám Thông khảo Tổng luận” do Lê Tung viết năm 1514 có chép việc họ Triệu mở trường dạy người Việt học chữ Hán.[2] Về sau, tất cả các triều đại người Hán cai trị Việt Nam đều thi hành chính sách đồng hóa. Triều nhà Minh còn tìm cách tiêu diệt nền văn hóa của ta, như tiêu hủy toàn bộ các thư tịch do người Việt viết, bắt nhân tài, thợ giỏi người Việt sang Trung Hoa phục dịch.

Như vậy, dân tộc ta buộc phải chấp nhận học chữ Hán từ rất sớm (trước Triều Tiên, Nhật Bản nhiều thế kỷ). Do hiểu biết người Hán nên tầng lớp tinh hoa người Việt đã nhanh chóng nhận ra nếu cứ học như thế thì cuối cùng tiếng Việt sẽ bị thay bằng tiếng Hán, dân ta sẽ trở thành một bộ phận của Trung Quốc.

Vậy cha ông ta đã dùng cách nào để giữ được tiếng nói của dân tộc trong hơn 1.000 năm bị cưỡng bức học và dùng chữ Hán cũng như phải tiếp thu nhiều yếu tố của nền văn minh Trung Hoa?

Vấn đề này rất cần được làm sáng tỏ để từ đó hiểu được truyền thống quý báu của dân tộc ta. Dưới đây chúng tôi xin mạo muội góp vài ý kiến nông cạn, nếu có sai sót mong quý vị chỉ bảo.

Đọc chữ hán bằng tiếng Việt: Một sáng tạo xuất sắc của tổ tiên ta

Chữ viết hình vuông là một phát minh lớn của nền văn minh Trung Hoa, được người Hán chính thức sử dụng từ đời nhà Thương (thế kỷ 16 đến 11 tr. CN), ngày nay phổ biến được gọi là chữ Hán.

Thực ra trong hơn 2.000 năm kể từ ngày ra đời, thứ chữ viết ấy chỉ được người Hán gọi là chữ 字 (tự) hoặc văn tự 文字. Đến đời Đường (thế kỷ VII) cái tên 漢字 (Hán tự, tức chữ Hán) mới xuất hiện lần đầu trong sách Bắc Sử 北史 do Lý Diên Thọ biên soạn.[3] Sau đó người Nhật và người Triều Tiên cũng gọi thứ chữ này là Hán tự: tiếng Nhật đọc Kanji, tiếng Triều Tiên đọc Hantzu. Cho tới nay Bộ Giáo dục Đài Loan vẫn chỉ gọi là Quốc tự 國字.

Vì thứ chữ ấy khi vào Việt Nam còn chưa có tên nên tổ tiên ta bèn đặt cho nó cái tên là chữ Nho, với ý nghĩa là chữ của người có học, bởi lẽ Nho 儒 là từ dùng để gọi những người có học. Dân ta gọi người dạy chữ là thầy đồ Nho, bút và mực họ dùng để viết chữ là bút Nho và mực Nho.[4]

Đây quả là một điều độc đáo, bởi lẽ Hán ngữ xưa nay chưa hề có khái niệm chữ Nho; tất cả từ điển Hán ngữ cổ hoặc hiện đại và các từ điển Hán-Việt đều không có mục từ Nho tự 儒字 với ý nghĩa là tên gọi của chữ Hán.

Có thể suy ra: Việt Nam thời xưa không có chữ viết (hoặc đã có chữ Việt cổ nhưng chưa hoàn thiện, chưa diễn tả được các khái niệm trừu tượng), vì thế khi tiếp xúc với chữ Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã nhận thấy đây là một phương tiện cực kỳ hữu ích dùng để truyền thông tin được xa và lâu, không bị hạn chế về khoảng cách và thời gian như cách truyền thông tin bằng tiếng nói, do đó họ đã sớm nghĩ tới việc mượn thứ chữ này làm chữ viết của dân tộc ta.

Muốn vậy dân ta phải biết chữ Hán, một thứ ngoại ngữ. Làm cho dân chúng học và dùng được một ngoại ngữ là việc hoàn toàn bất khả thi ở thời ấy. Hơn nữa chữ Hán cổ khó đọc (vì không biểu âm), khó viết (vì có nhiều nét và cấu tạo phức tạp), khó nhớ (vì có quá nhiều chữ), thuộc loại chữ khó học nhất trên thế giới.

Nói chung, mỗi chữ viết đều có một âm đọc; không ai có thể xem một văn bản chữ mà không vừa xem vừa đọc âm của mỗi chữ (đọc thầm hoặc đọc thành tiếng). Mỗi chữ Hán đều có một âm tiếng Hán; muốn học chữ Hán tất phải đọc được âm của nó. Viết chữ Hán khó, tuy thế tập nhiều lần sẽ viết được, nhưng do khác biệt về hệ thống ngữ âm, người Việt nói chung khó có thể đọc được các âm tiếng Hán.

Ngoài ra Trung Quốc là một nước rộng lớn, đông dân; cho tới trước nửa cuối thế kỷ 20 cả nước vẫn chưa thống nhất được âm đọc của chữ. Loại chữ này chỉ thể hiện ý nghĩa, không thể hiện âm đọc, cho nên nhìn chữ mà không biết cách đọc. Người dân các vùng xa nhau thường đọc chữ Hán theo âm khác nhau, thậm chí khác xa nhau, vì thế thường không hiểu nhau nói gì. Các thứ tiếng địa phương ấy ta gọi là phương ngữ, người Hán gọi là phương ngôn (方言); Hán ngữ hiện có 7 phương ngữ lớn, nhiều phương ngữ nhỏ (次方言).

Không thống nhất được âm đọc chữ Hán là một tai họa đối với người Hán. Với người nước ngoài học chữ Hán cũng vậy: khi mỗi ông thầy Tàu đọc chữ Hán theo một âm khác nhau thì học trò khó có thể học được thứ chữ này.

Để có thể học được chữ Hán mà không cần đọc âm tiếng Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã sáng tạo ra một giải pháp xuất phát từ ý tưởng: nếu người Hán khác vùng có thể tự đọc chữ Hán theo âm riêng của vùng, thì ta cũng có thể đọc chữ Hán theo âm riêng của người Việt.

Muốn vậy, mỗi chữ Hán được tổ tiên ta quy ước đọc bằng một (hoặc vài, tùy chữ Hán gốc) âm tiếng Việt xác định có gốc là âm chữ Hán — ngày nay gọi là âm Hán-Việt, nghĩa là mỗi chữ Hán đều được đặt cho một (hoặc vài) cái tên tiếng Việt xác định, gọi là từ Hán-Việt.

Thí dụ chữ 水 được đặt tên là chữ Thủy, âm đọc thủy khác với âm đọc shuẩy của người Hán. Chữ 色, tiếng Hán đọc sưa, ta đọc sắc. Thủy và Sắc là từ Hán-Việt, cũng là âm Hán-Việt của 水và色.

Âm/từ Hán-Việt được chọn theo nguyên tắc cố gắng bám sát âm Hán ngữ mà tổ tiên ta từng biết.[5] Như chữ 終, âm Hán và âm Hán-Việt đều đọc chung, tức hệt như nhau; chữ 孩, Hán ngữ đọc hái, ta đọc Hài, gần như nhau. Nhưng hầu hết chữ đều có âm Hán-Việt khác âm Hán. Như 集 âm Hán là chí, ta đọc Tập ; 儒 giú, ta đọc Nho. Có chữ âm Hán như nhau mà âm Hán-Việt có thể như nhau hoặc khác nhau, như 同 và 童, âm Hán đều là thúng, từ Hán-Việt đều là Đồng ; nhưng 系 và 細, âm Hán đều là xi, lại có hai từ Hán-Việt khác nhau là Hệ và Tế. Chữ Hán có hai hoặc nhiều âm thì có thể có một, hai hoặc nhiều âm/từ Hán-Việt, như 都 có hai âm Hán là tâu và tu, lại chỉ có một âm/từ Hán-Việt là Đô ; 少 có hai âm Hán shảo và shao, cũng có hai âm/từ Hán-Việt là Thiểu (trong thiểu số) và Thiếu (trong thiếu niên).

Thứ chữ Hán đọc bằng âm Hán-Việt này được dân ta gọi là chữ Nho. Vì đọc chữ bằng tiếng mẹ đẻ nên chữ Nho trở nên dễ học đối với người Việt: chỉ cần học mặt chữ, nghĩa chữ và cách viết văn chữ Hán mà không cần học phát âm cũng như học nghe/nói tiếng Hán. Vì thế thời xưa ở nông thôn nước ta không hiếm người 6-7 tuổi đã biết chữ Nho.[6] Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) 12 tuổi đỗ Cử nhân, 16 tuổi đỗ Hoàng giáp (Tiến sĩ). Người không biết chữ cũng có thể học truyền miệng các tác phẩm ngắn có vần điệu, như Tam Thiên Tự.[7]

Người biết chữ Nho có thể xem hiểu các thư tịch chữ Hán, viết văn chữ Hán; tuy không nói/nghe được tiếng Hán nhưng vẫn có thể dùng bút đàm để giao tiếp bình thường với người Hán. Chỉ bằng bút đàm chữ Nho, Phan Bội Châu giao tiếp được với các nhà cải cách Trung Quốc và Nhật Bản, đưa được mấy trăm thanh niên Việt Nam sang Nhật học quân sự chính trị, chuẩn bị về nước đánh đuổi thực dân Pháp.

Cần nhấn mạnh: vì âm/từ Hán-Việt không thể ghi âm hầu hết từ ngữ tiếng Việt cho nên cách đọc chữ Hán theo âm Việt hoàn toàn không thể biến tiếng Việt thành một phương ngữ của Hán ngữ,[8] và dân ta vẫn hoàn toàn nói và nghe bằng tiếng mẹ đẻ.

Chữ Nho chỉ dùng để viết mà thôi, và chỉ được giới tinh hoa (trí thức và quan lại người Việt) dùng trong giao dịch hành chính, ngoại giao, lễ tiết, chép sử, giáo dục, thi cử, sáng tác văn thơ. Còn ở Trung Quốc, những người nói một trong các phương ngữ tiếng Hán đều có thể dùng chữ Hán để ghi âm được toàn bộ tiếng nói của phương ngữ ấy, nghĩa là họ có thể dùng chữ Hán để ghi âm tiếng mẹ đẻ.

Dĩ nhiên cách đọc tiếng Việt chỉ có thể làm với chữ Hán, là loại chữ biểu ý (ghi ý), chứ không thể làm với chữ biểu âm (ghi âm). Ngày nay âm/từ Hán-Việt của mỗi chữ Hán có thể dễ dàng viết ra bằng chữ Quốc ngữ (một loại chữ ghi âm), nhưng ngày xưa, khi chưa có bất kỳ loại ký hiệu nào ghi âm tiếng nói, tổ tiên ta chỉ có thể truyền khẩu. Thế mà lạ thay, việc dạy chữ Nho đã được mở rộng, ở thời Nguyễn là đến tận làng, có thể suy ra tỷ lệ người biết chữ Hán của dân ta cao hơn Trung Quốc!

Chỉ bằng cách truyền miệng mà người Việt thời xưa đã tạo ra được một bộ từ Hán-Việt tương ứng với bộ chữ Hán khổng lồ — bộ chữ này trong Tự điển Khang Hy (1716) có hơn 47 nghìn chữ; Tiêu chuẩn Nhà nước Trung Quốc GB18030 (2005) có 70.217 chữ; Trung Hoa Tự hải có 85.568 chữ Hán.

Quá trình tiến hành Việt Nam hóa phần ngữ âm của chữ Hán kéo dài trong hàng nghìn năm, là một thành tựu văn hóa vĩ đại. Có thể phỏng đoán đó là một quá trình mở, do nhiều thế hệ người Việt thực hiện, thể hiện sức sáng tạo bất tận của tổ tiên ta.

Nhật và Triều Tiên cũng mượn dùng chữ Hán, nhưng họ tự đến Trung Hoa nghiên cứu đem chữ Hán về dùng chứ không bị ép dùng từ sớm như ta. Họ cũng đọc chữ Hán theo âm bản ngữ của dân tộc mình — giải pháp do người Việt nghĩ ra và thực hiện trước họ nhiều thế kỷ.

Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Nguyễn Tài Cẩn nói: “Cách đọc Hán Việt là một tài sản của riêng dân tộc ta. Có dùng nó khi đọc Đạo đức kinh, Kinh Thi, Sở từ… thì mới phù hợp với thói quen dân tộc, tiện lợi cho dân tộc. Theo ý chúng tôi, dùng cách đọc Hán Việt ở những trường hợp này là một điều hết sức phù hợp với khoa học. Đọc theo lối Hán Việt thì dễ hiểu hơn, bởi lẽ ngay trong tiếng Việt đã có khá nhiều tiếng Hán Việt quen thuộc, chỉ đọc lên, nghe được, là hiểu được; đọc theo lối Hán Việt thì cũng thuận tai hơn… ”.[9]

Đúng thế. Thí dụ từ 社會, người Anh biết Hán ngữ đọc shưa huây, người Anh không biết Hán ngữ khi nghe âm đọc ấy sẽ chẳng hiểu gì; còn người Việt biết Hán ngữ đọc “xã hội”, người Việt không biết Hán ngữ nghe đọc sẽ hiểu ngay nghĩa của từ; âm “xã hội” thuận tai, dễ đọc dễ nhớ hơn âm shưa huây. Rõ ràng cách đọc Hán-Việt thật tiện lợi cho người Việt. Trong bài sau, chúng tôi sẽ nói thêm về vấn đề này.

Ngày nay mỗi chữ Hán trong tất cả các từ điển Hán-Việt đều phải ghi kèm từ Hán-Việt tương ứng. Hán-Việt Tự điển của Thiều Chửu có kèm Bảng tra chữ theo âm Hán-Việt, dùng tra chữ Hán rất tiện và nhanh hơn tra theo bộ thủ. Người có sáng kiến làm Bảng này là bà Nguyễn Thị Quy (1915-1992), em ruột Thiều Chửu, khi bà lần đầu xuất bản Tự điển nói trên tại Sài Gòn năm 1966.[10]

Như vậy, bằng cách đọc chữ Hán theo âm tiếng Việt, tổ tiên ta đã thành công trong việc mượn chữ Hán để dùng làm chữ viết chính thức của dân tộc mình và gọi nó là chữ Nho. Sự vay mượn này chẳng những không làm cho tiếng Việt bị biến mất mà còn làm cho nó phong phú hơn rất nhiều, trở thành một ngôn ngữ cực kỳ linh hoạt, có thể tiếp nhận và Việt hóa hầu như toàn bộ từ ngữ mới xuất hiện trong tiến trình phát triển của loài người toàn cầu.

Chữ Nho khác chữ Hán ở phần ngữ âm: nó là chữ Hán được đọc bằng âm tiếng Việt chứ không đọc bằng âm tiếng Hán như chữ người Hán dùng. Nói cách khác, chữ Nho là chữ Hán đã được Việt Nam hóa phần ngữ âm; còn về tự dạng và nghĩa chữ thì cơ bản như chữ Hán của người Hán. Vì thế có người gọi chữ Nho là chữ Hán-Việt.

Rõ ràng nó là chữ của người Việt Nam, đã Việt Nam hóa phần ngữ âm, không thể coi là chữ của người Hán. Chữ Nho là chữ viết chính thức của dân tộc ta trong hơn 2.000 năm, kể từ thời điểm muộn nhất là bắt đầu thời Bắc thuộc cho tới khi được thay thế bằng chữ Quốc ngữ cực kỳ ưu việt, được chính các nhà Nho tiên tiến tán thưởng và đi tiên phong ủng hộ sự phổ cập Quốc ngữ.

Cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt đã đáp ứng nhu cầu giao tiếp bằng bút đàm giữa quan lại cấp thấp người Việt với quan lại cấp cao người Hán, khiến cho bọn thống trị người Hán vẫn thực thi được quyền lực cai trị dân bản xứ. Hơn nữa, cách đó làm cho việc phổ cập chữ Hán trong người Việt trở nên dễ dàng, tức đáp ứng yêu cầu dạy chữ Hán của các vương triều người Hán. Vì vậy chúng không còn lý do cưỡng chế dân ta phải học nghe/nói tiếng Trung Quốc.

Cách đọc chữ Hán như trên đã có tác dụng không ngờ là làm cho người Hán dù có cai trị Việt Nam bao lâu thì cũng không thể tiêu diệt nổi tiếng Việt và Hán hóa được dân tộc ta. Có thể là khi bắt đầu sáng tạo cách đọc ấy, tổ tiên ta chưa nghĩ tới điều đó, nhưng rốt cuộc sáng tạo xuất sắc này đã giúp dân tộc ta tránh được nguy cơ bị người Hán đồng hóa. Đây là một thành công vĩ đại!

Đáng tiếc là hiện không thấy có thư tịch nào ghi chép ai nghĩ ra và thời điểm nào xuất hiện cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt. Có thể cho rằng sáng kiến đó ra đời khi chữ Hán bắt đầu vào nước ta, tức muộn nhất là khoảng thế kỷ 2 – 1 tr.CN.

Có ý kiến cho rằng cách đọc Hán-Việt bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, cụ thể là Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng hai thế kỷ 8, 9.

Nếu hiểu ý kiến này theo nghĩa đến đời Đường mới xuất hiện cách đọc Hán-Việt thì e rằng khó có thể giải đáp câu hỏi: vậy thì trong thời gian khoảng ngót 1000 năm trước đó người Việt đọc chữ Hán bằng cách nào? Đến đời Đường, người Hán đã thống trị Việt Nam được hơn 9 thế kỷ, quá thừa thời gian để họ hoàn toàn đồng hóa người Việt bằng văn hóa, ngôn ngữ, khi ấy tiếng Việt đã bị biến mất, sao còn có thể xuất hiện cách đọc Hán-Việt?

Phải chăng nên hiểu ý kiến trên theo nghĩa: đến thời Đường, cách đọc Hán-Việt được hoàn thiện nhờ học tập Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng thế kỷ 8 – 9.

***

Có thể kết luận: dân tộc Việt Nam tồn tại được và không bị đồng hóa sau hơn 1.000 năm chịu sự thống trị của một quốc gia liền kề có nền văn hóa lớn mạnh là nhờ đã phát huy bản lĩnh trí tuệ của mình, thể hiện ở chỗ sáng tạo được biện pháp đọc chữ Hán bằng tiếng Việt, qua đó đã vô hiệu hóa chủ trương đồng hóa ngôn ngữ của các triều đại phong kiến Trung Hoa.

Có những người Hán đã nhận ra bản lĩnh trí tuệ ấy của người Việt.

Năm 987, nhà Tống cử Lý Giác李覺 đi sứ sang Hoa Lư, Việt Nam, được hai vị Quốc sư Khuông Việt và Pháp Thuận đón tiếp, đàm phán các vấn đề quốc gia đại sự và họa thơ. Khi về nước, Lý Giác tặng vua Lê Đại Hành một bài thơ, trong có câu: “Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu 天外有天應遠照”, nghĩa là: “Ngoài trời này còn có trời khác, nên nhìn thấy”. Nói cách khác, thế giới này đâu phải chỉ có một mặt trời Trung Hoa mà còn có mặt trời Việt Nam!

Câu thơ cho thấy Lý Giác đã bước đầu nhận ra bản lĩnh trí tuệ của người Việt. Đúng thế, tổ tiên ta thật vô cùng tài giỏi, nếu không thì còn đâu giang sơn tươi đẹp này!

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.

(Nghiên Cứu Quốc Tế)

—————————

[1] Nói là “muộn nhất” vì còn có các quan điểm như: chữ Hán vào VN qua con đường giao thương hoặc truyền bá tôn giáo từ lâu trước khi nước ta bị Triệu Đà chiếm; VN đã có chữ viết từ đời Hùng Vương (Hoàng Hải Vân: Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động).

[2]宋代中越文学交流述论 có câu 黎嵩 “越鑑通考總論” viết : 趙佗 “建立學校,導之經義。由此已降,四百余年,頗有似類” .

[3] Bài 汉字名称的来由 (http://blog.sina.com.cn) và một số bài khác có viết: Từ  Hán tự  漢字 xuất hiện sớm trong Bắc sử, quyển 9 [biên soạn xong năm 659]. 汉字一词早出自《北史》卷九本纪第九, “章宗一”:“十八年,封金源郡王.始习本朝语言小字, 及汉字经书,以进士完颜匡、司经徐孝美等侍读”. Từ Hán tự xuất hiện nhiều trong sách Kim sử 金史 (năm 1345) đời Nguyên. Ở đời nhà Thanh (1644-1911), thời kỳ đầu do chữ viết chính thức của chính quyền không phải là chữ Hán mà là chữ Mãn (满文) nên phải dùng tên gọi chữ Hán 漢字 để chỉ loại văn tự truyền thống của người Hán, nhằm phân biệt với chữ Mãn.

[4] Có ý kiến nói do thời bấy giờ thứ chữ đó được dùng để dạy dân ta học Nho giáo 儒教 nên dân ta gọi nó là chữ Nho. Nhưng Nho 儒với nghĩa “người có học” xuất hiện trước rất lâu, sau đó mới dùng chữ ấy vào từ Nho giáo để gọi học thuyết của Khổng Tử. Cùng lý do ấy, chữ Khổng có trước khi Khổng Tử ra đời.

[5] Khó có thể biết đó là âm tiếng địa phương nào ở TQ. Trong đó có những âm tiếng Quảng Đông, như nhất, nhì, shập, học chập khi đọc các chữ  一,二,十,學習 (âm Hán-Việt đọc nhất, nhị, thập, học tập).

[6] Thí dụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) 8 tuổi học chữ Nho, 13 tuổi văn hay chữ tốt, 24 tuổi đậu Giải Nguyên, 28 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ. Phan Bội Châu (1867-1940) 6 tuổi học ba ngày đã thuộc lòng 1440 chữ Nho trong Tam Tự Kinh. Trần Gia Minh tác giả sách Huyền thoại Kim thiếp Vũ Môn 5-6 tuổi đã học chữ Nho truyền khẩu từ người ông mù lòa.

[7] Do nhà Nho Đoàn Trung Còn sáng tác, là một bài vè dài, mỗi câu hai âm, đọc lên có vần điệu dễ nhớ.

[8] Năm 1867, G. Aubaret trong cuốn Grammaire annamite từng sai lầm nhận định: “Tiếng bình dân nói trong vương quốc An Nam là một phương ngữ của tiếng Trung Quốc” (trích dẫn theo Phạm Thị Kiều Ly trong “Ghi âm tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ”, sách “Tiếng Việt 6”, Nxb Tri Thức, 2015).

[9] Nguyễn Tài Cẩn : Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt.

[10] Dẫn theo Lê Quốc Trinh, con trai bà Quy và là người trực tiếp tham gia làm Bảng tra này.


Loạt bài về chiến binh Nhật tại Việt Nam của tác giả Sasaki Manabu được đăng trên báo Asahi từ 17 tới 27 tháng Bảy năm 2015.

Năm 1945, tại sân bay ở ngoại ô Hà Nội, ngay sau khi Nhật bại chiến, có một người lính đã không chấp nhận nổi chuyện quay trở lại Nhật. Người lính đó tên là Motoyama Kyuzou.

Ông sinh năm 1921, ra nhập quân đội Nhật năm 1939 và năm 1943 được phái đi Việt Nam. Ông Motoyama cùng với nhóm chiến hữu mang theo súng trường và súng máy đào ngũ. Trên đường trốn chạy ông đã gặp được cán bộ của “Việt Nam Độc lập đồng minh” (gọi tắt là Việt Minh). Ông Motoyama đã quyết định tham gia vào lực lượng Việt Minh.

Những binh lính Nhật lưu vong tham gia lực lượng Việt Minh chống Pháp được gọi là những người “Việt Nam mới”. Họ có tên tiếng Việt. Ông Motoyama đã lấy tên tiếng Việt là Hoàng Văn Hạc. Tên “Hạc” là một cái tên bình thường ở Việt Nam nhưng đồng thời nó cũng có tính gắn kết với Nhật Bản - tên của loài chim, nhân vật trong câu chuyện cổ tích nổi tiếng của Nhật.

Ông Motoyama là một trong số những cựu chiến binh Nhật làm nhiệm vụ huấn luyện quân sự. Ông đã chỉ dạy kiến thức về kỹ thuật và chiến thuật cho lính Việt Nam tại Thanh Hóa. Một thời gian sau ông được cử trở về Hà Nội nhưng do quân Pháp truy lùng dáo diết những người lính Nhật đào ngũ, theo hướng dẫn của Việt Minh ông tạm lánh ở tỉnh Thái Nguyên.

Tại đây ông đã truyền dạy phương pháp sử dụng súng trường cho quân đội địa phương. Năm 1947 ông kết hôn với bà Phạm Thị Nguyệt. Cũng tại mảnh đất Thái Nguyên, tổ ấm ông bà xây dựng đón thêm những thành viên mới của gia đình.

Nói về ông Motoyama, ông Nguyễn Văn Thao (hiện 76 tuổi) nguyên là quân nhân Việt Nam xúc động kể lại về người chỉ huy huấn luyện quân sự: “Tuy là người huấn luyện quân sự, chức phận cao, nhưng ông ấy lúc nào hiền hòa thân thiện, rất được dân làng yêu mến”.

Sau năm 1954, ông Motoyama Kyuzou rời quân ngũ trong quân đội Việt Nam, cùng gia đình sinh kế bằng nghề bán than và đúc dao kéo.

Do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh lạnh, mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, Liên Xô cũ càng được thắt chặt, việc tín dùng các cựu chiến binh Nhật có phần giảm sút. Năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lững năm châu, tuy nhiên những người lính Nhật đã không trực tiếp tham gia vào chiến dịch này. Sau hiệp định Geneve, Việt Nam bị chia cắt ở vĩ tuyến 17.

Nhật Bản nghiêng về phía thân Mỹ, với bối cảnh đó, chính phủ miền Bắc Việt Nam quyết định đưa những người lính Nhật lưu vong trở về nước họ. Tuy nhiên năm 1954 lúc bấy giờ không chấp nhận việc đem theo vợ con, nên 71 người lính Nhật đã để vợ con lại Việt Nam, đơn thân trở về nước.

“Nếu không được đi cùng vợ con thì tôi không trở về”, ông Motoyama đã quyết định ở lại Việt Nam. Sau năm 1954, ông rời khỏi đội ngũ quân đội Việt Nam, cùng gia đình sinh kế bằng nghề bán than và đúc dao kéo.

Năm 1960, đợt trao trả binh lính Nhật lần thứ ba đã chấp nhận việc những người lính có thể đưa cả vợ con về Nhật. Lúc đó ông có bốn người con. Nhưng do vợ ông còn mẹ già đau yếu nên ông đành phải để người con trai cả (Hoàng Xuân Nam) lại Việt Nam để chăm sóc mẹ vợ. Ông đã đưa ba con và người vợ đang mang bầu về Nhật.

Ông Nam, người con trai cả của ông Motoyama, sau đó kết hôn với người cùng quê, hai vợ chồng ông Nam vừa làm nghề trồng chè, vừa nuôi dạy năm người con trưởng thành. Năm 1974, người con thứ tư của vợ chồng ông ra đời được đặt tên là Hoàng Thị Thanh Hoài. Chị Hoài (40 tuổi) hiện nay đang làm việc cho Bệnh viện mắt quốc tế Nhật Bản tại Hà Nội.

                                                 Ông bà Motoyama (ảnh chụp năm 1986).

Khi Nhật chiếm đóng Việt Nam, họ đã gây ra cảnh đói kém và nạn đói đã cướp đi sinh mạng của biết bao nhiều người dân khi đó. Vì vậy rất nhiều người dân Việt Nam đã căm ghét quân Nhật, con cháu người Nhật như ông Nam thời bấy giờ thường bị bắt nạt bị trêu chọc là “phát xít Nhật” và “con lai”.

Dù vậy họ vẫn luôn tự hào là con cháu người Nhật. Ông Nam đã đặt tên cho con gái thứ hai của mình là Anh Đào. Cũng tại Thái Nguyên, thế hệ thứ hai của người lính Nhật - ông Trần Cao Xô cùng năm 1968 đã đặt tên cho con trai là Phú Sĩ. Đương thời tuy đói kém nhưng những người con cháu của người lính Nhật tại Việt Nam vẫn luôn đùm bọc lẫn nhau chia nhau từng chút gạo, củ khoai, củ sắn.

Năm 1980 ông Nam đã được gặp lại bố mẹ mình sau hai mươi năm xa cách. Khi đó chị Hoài, con gái ông Nam mới sáu tuổi.

Tuy nhiên lúc bấy giờ, do ảnh hưởng của chiến tranh lạnh nên khi vợ chồng ông Motoyama về Thái Nguyên thăm con luôn phải trong sự giám sát của công an địa phương.

Ông Motoyama sau khi đưa vợ con về quê hương Fukuoka đã làm việc cho công ty sản xuất bê tông cốt thép. Vợ ông ban đầu chưa nói được tiếng Nhật nhưng cũng đã rất chăm chỉ, chịu khó làm việc ở công trường.

Sau bại chiến, kinh tế Nhật phát triển thần kỳ. Sống sung túc ở nước Nhật, vợ chồng ông không bao giờ quên người con trai cả ở Việt Nam. Ông bà thường xuyên gửi tiền và thư về hỏi thăm xem con cháu có gặp nguy hiểm trong chiến tranh, có được ăn uống đầy đủ không.

             Ông Hoàng Xuân Nam (trái ngoài cùng) trong một lần thăm cha mẹ của mình ở Nhật.

Trong ngày vui hội ngộ, bố mẹ con cháu vui vẻ ăn bữa cơm đấm ấm. Cha con cùng chúc rượu và tâm tình bằng tiếng Việt, bù đắp khoảng trống 20 năm phân tán ly biệt.

Ông bà Motoyama đã ở lại Việt Nam một tháng, vừa đi thăm những người bạn xưa vừa ôn lại kỉ niệm ở những nơi từng thân thuộc. Dù lúc đó còn nhỏ, nhưng chị Hoài đã nhớ mãi cho tới tận bây giờ nụ cười nhân hậu và lời ông nội đã từng nói với chị khi ấy: “Trong trái tim, ông luôn là người Việt Nam”.

Chị Hoài luôn khao khát có ngày được đặt chân tới xứ sở hoa anh đào, nơi có nền kinh tế phát triển hiện đại. Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, mối quan hệ hai nước Nhật Bản và Việt Nam ngày càng tốt đẹp. Việc đối xử bất công với thế hệ con cháu người Nhật ở Việt Nam cũng không còn.

Ao ước đến Nhật của chị đã thành hiện thực vào năm 1995. Chị Hoài cùng bố đã tới thăm ông bà ở Nhật. Bố chị lần đầu tiên được hội ngộ với các em mình sau 35 năm xa cách.

Một tháng tạm trú ở Nhật, ông Nam và con gái ít ra ngoài, dành hầu hết thời gian để ở bên gia đình. Tuy nhiên khác với ông nội, các cô chú của chị từ bé đã được đưa sang Nhật, đặc biệt là người chú út được sinh ra tại và lớn lên tại Nhật nên hầu như không nói được tiếng Việt. Do đó đã gặp rất nhiều khó khăn trong giao tiếp hội thoại. Bố chị đã rất đau lòng khi thốt lên “Là anh em ruột mà tiếng nói khác nhau”.

Chứng kiến điều đó chị Hoài sau khi trở về Việt Nam đã hạ quyết tâm học tiếng Nhật.

Con trai cả Hoàng Xuân Nam (bên trái ngoài cùng) và cháu nội (Hoài) thăm ông Motoyama vào năm 1995 tại Fukuoka.

“Tôi sẽ phiên dịch Nhật-Việt để gắn kết các thành viên trong gia đình,” chị nói. Chính động lực mãnh liệt khi đó đã thôi thúc chị thi vào trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội khoa tiếng Nhật. 4 năm học đại học, tiền học phí sinh hoạt ăn ở của chị được ông nội chi trả. Luôn nhớ về Nhật Bản, chị đã lấy tên địa chỉ mail của mình là “Hoài・Sakura”.

Chị cho biết đã sử dụng tên địa chỉ mail này từ thời đại học đến bây giờ. Lúc nào cũng ghi tâm tạc dạ lời động viên khích lệ của ông nội: “Hãy cố gắng học hành chăm chỉ”, sau 4 năm miệt mài đèn sách, chị tốt nghiệp ra trường.

Luôn yêu đất nước và con người Nhật bản và muốn làm công việc liên qua tới Nhật và tiếng Nhật, năm 2003 chị làm việc cho một công ty gỗ ván sàn của Nhật. Nhân dịp làm visa đi công tác, tình cờ chị gặp gỡ và tiếp chuyện bác sĩ khoa mắt người Việt tại Đại sứ quán Nhật Bản tại Hà nội. Câu chuyện đưa đẩy và là nguyên do giúp chị quen bác sĩ người Nhật Hattori Tadashi.

Trở thành cầu nối giữa Việt Nam và Nhật Bản là sứ mệnh của tôi
Hoàng Thị Thanh Hoài, cháu nội ông Motoyama

Bác sĩ Hattori Tadashi đã bắt đầu hoạt động khám chữa mắt miễn phí cho người dân Việt Nam tại các tỉnh nghèo từ năm 2002. Tuy không có kiến thức về y khoa nhưng chị Hoài đã quyết định đi theo trợ giúp các hoạt động từ thiện của của bác sĩ Hattori Tadashi tại Việt nam từ các thủ tục hành chính với các cơ quan chức năng tại địa phương đến việc lo cho đoàn phương tiện đi lại và nơi ăn ở...

Tại thủ đô Hà Nội, gần hồ Trúc Bạch, nơi ồn ào tấp nập xe máy và các tòa nhà cao tầng dần dần mọc lên, có một bệnh viện với logo màu hoa anh đào - Bệnh viện mắt Quốc tế Nhật Bản. Bệnh viên do bác sĩ Hattori Tadashi và các cộng sự của ông thành lập.

Bệnh viện ra đời ở Việt Nam là cả một quá trình dài hơn 13 năm làm từ thiện cứu giúp cho trên 15.000 bệnh nhân được phẫu thuật mắt miễn phí thoát khỏi cảnh mù lòa của Bác sỹ Hattori Tadashi - người mà đồng nghiệp vẫn thường gọi ông là “Bác sỹ có bàn tay vàng”.

          Chị Hoàng Thị Thanh Hoài đang làm việc tại Bệnh viện mắt Quốc tế Nhật Bản tại Hà Nội.

Trong suốt quá trình làm từ thiện ở Việt Nam, ông luôn khát khao có một bệnh viện theo tiêu chuẩn của Nhật để ở đó nhiều bệnh nhân được chữa bệnh. Và Bệnh viện mắt quốc tế Nhật Bản được thành lập vào giữa năm 2014. Trong suốt quá trình xin cấp phép cho bệnh viện đi vào hoạt động, chị Hoài đóng vai trò là người làm những thủ tục hành chính, giấy tờ lôi thôi, phức tạp .

Tháng 5 năm 2014, dự án bệnh viện đã được cấp giấy phép đầu tư và tháng 10 cùng năm bệnh viện nhận được giấy phép chính thức đi vào hoạt động. Chị Hoài lại đóng vai trò là một cố vấn quản lý, vừa là người truyền lại các phương châm làm việc của người Nhật tới các nhân viên địa phương, vừa là người giữ cầu nối với các cơ quan chức trách. Với tư cách là cháu nội của cựu chiến binh Nhật Bản chị nói: “Trở thành cầu nối giữa Việt Nam và Nhật Bản là sứ mệnh của tôi”.

Năm 2014 bác sĩ Hattori đã được chính phủ Việt Nam trao tặng “Huy chương Hữu nghị” - huy chương cao quý nhất dành cho những người nước ngoài có đóng góp lớn cho Việt Nam. Nói về chị Hoài, bác sĩ Hattori Tadashi tâm sự: “Nếu không có sự trợ giúp của cô ấy thì các hoạt động của tôi khó mà thành công như ngày hôm nay”.

Tháng 6 năm 2004, ông Motoyama qua đời. Trước khi mất, ông Motoyama có mong muốn được trở về Việt Nam. Thực hiện nguyện vọng của cha mình cùng năm đó, bà Fumiko, em gái của ông Hoàng Xuân Nam, đã mang hài tro của cha mình trở về Thái Nguyên nơi bà đã cùng gia đình sống tại đó cho tới khi 6 tuổi. Sau hơn một năm ông nội mất, người cha kính yêu của chị Hoài cũng đi theo ông nội khi tuổi đời còn rất trẻ. Và năm 2011 bà nội cũng đã mất tại Fukuoka.

Chiến tranh qua đi, sau 70 năm mối quan hệ Nhật – Việt ngày càng tốt đẹp. Cháu nội của người cựu chiến binh Nhật Motoyama, chị Hoài ngày nay vẫn đang tiếp tục là cầu nối giữa hai đất nước, hai quê hương của thế hệ ông nội mình.

Bài được tổng hợp từ 11 bài viết của tác giả Sasaki Manabu đăng trên báo Asahi số ra các ngày từ 17 tới 27 tháng Bảy năm 2015.

(BBC)
Nguyen Van Thieu, Nguyen Cao Ky, Sai Gon, so tu vi
                                              Tướng Nguyễn Cao Kỳ, ảnh chụp năm 1965

Nguyễn Văn Thiệu lâng lâng nghe Đỗ Mậu giải đoán về “lá số tử vi đại quý” của mình với một loạt chữ Tỵ. Đỗ Mậu dựa vào đó để “cổ vũ” Thiệu theo hướng có lợi cho cuộc vận động các sĩ quan chống Diệm. Mớm cho Thiệu phải “hành động quân sự” mới ứng hợp với bước đường thăng tiến mà “lá số” cho thấy.

Nguyễn Văn Thiệu ra về, không bao lâu sau, cũng chính Đỗ Mậu, với tư cách Giám đốc Nha an ninh quân đội, gọi điện thoại bắt Thiệu phải đến trình diện mình gấp. Vội vã và lo lắng, Thiệu rời Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 do mình nắm giữ, về ngay Nha an ninh quân đội vài giờ sau đó.

Lần này, Đỗ Mậu không mở đầu bằng những lời tiên đoán tốt đẹp  như trước đây, mà dọa “bắt giam” Thiệu vì tội “âm mưu lật đổ tổng thống” Diệm! Nghe vậy Thiệu thất sắc, chưa biết phải nói năng ra sao, Ông Mậu vội trấn an ngay, bảo mình giả vờ thôi, và bàn vào chuyện…lật đổ Diệm thật!

Vậy là “ông thầy bói” thành “ngài đại tá” vận động làm binh biến và trong đảo chính 1.11.1963 chính Nguyễn Văn Thiệu cầm quân trực tiếp đánh vào thành Cộng hòa và dinh Gia Long, được thăng từ đại tá lên thiếu tướng.

Theo những người thân cận dinh độc lập thì phần việc tham gia đảo chính trên của ông Thiệu do tướng Dương Văn Minh giao.Thăng đến trung tướng. Thiệu chuyển sang vai “quốc trưởng” (Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia). Năm 1964-1965, Nguyễn Văn Thiệu cùng “nhóm tướng trẻ” đưa “ông thầy bói” Đỗ Mậu ra khỏi Sài Gòn quản thúc. Nguyễn Cao Kỳ cũng vậy, trước được Đỗ Mậu dẫn đi coi bói bởi một “ông thầy” khác để biết chuyện tương lai, sau lên làm “thủ tướng” đã góp tay đẩy ông Mậu về vườn.

Chuyện như sau: Theo Đỗ Mậu, ông và Nguyễn Cao Kỳ có liên hệ “thắm thiết” như anh em, chí lí tình nghĩa đến cả chia nhau chút ruốc mắm, lọn nem, đòn chả, củ hành, dưa kiệu, nhét túi cho Kỳ đôi đồng uống bia là thường. Ngày mẹ mất, Kỳ thống thiết thưa với đàn anh: -“ Buổi sinh tiền, mẹ tôi ngỏ ý muốn khi mất sẽ được chôn cất ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi mà tôi thì quá túng thiếu không làm sao báo hiếu được, vậy nhờ đại tá giúp đỡ đàn em”. (Đỗ Mậu).

Nguyen Van Thieu, Nguyen Cao Ky, Sai Gon, so tu vi
                                 Ảnh tư liệu: Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ (từ trái qua)

Cám cảnh Kỳ nghèo mà có hiếu, Đỗ Mậu bỏ tiền “mua biếu tặng bà cụ đám đất trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi”, giúp Kỳ chôn cất mẹ như ý nguyện. Kỳ dính líu tới nhóm sĩ quan nhảy dù mưu lật đổ Ngô Đình Diệm vào năm 1960; lại buôn lậu hàng hóa rẻ từ Singapore về bị quan thuế bắt; Đỗ Mậu bảo mình đều đứng ra che chở “đàn em”.

Đến ngày vận động lật đổ chế độ Diệm, tuy thân thiết như vậy, Đỗ Mậu vẫn thi triển bài bản có lớp lang chu đáo. Đầu tiên, gọi Kỳ đến, mở miệng là dọa “bắt” (như với Thiệu). Nhưng sau hạ giọng mát mẻ mời “tham gia đại sự”, làm như bộ luôn tiện (thật ra có chủ ý, sắp xếp trước) lôi Kỳ đi coi bói.

Theo lời Kỳ, hai người lên taxi chạy qua những phố vắng vẻ của Sài Gòn, ngừng trước một căn nhà tồi tàn: “Một cụ già đưa chúng tôi vào một gian phòng dơ dáy đầy sách vở, cuộn giấy, biểu đồ thiên văn…Đỗ Mậu đưa cho ông ta những chi tiết về ngày sinh của tôi rồi hỏi ông ta hai câu. Câu thứ nhất: “Người này (chỉ Nguyễn Cao Kỳ) có lương thiện không, có phải là một người tôi có thể tin tưởng, sẽ không bao giờ phản lại tôi hay những người khác không?”

Câu trả lời của cụ già khẳng định là Kỳ không phải loại người “phản trắc”.

Đoạn “mở đầu gieo quẻ” đó, Đỗ Mậu kể sinh động hơn: “Tôi  (Đỗ Mậu) bèn kéo Kỳ đến nhà thầy tử vi Minh Lộc ở đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần, Q.3, TP.HCM) mà tôi đã sắp đặt từ trước. Sau khi gieo quẻ bấm tay, ông Minh Lộc nói rằng số Canh Ngọ này (của Nguyễn Cao Kỳ) làm nghề đi mây về gió (!) tuy nhiên đến thu đông năm nay (nhằm khoảng thời gian áng chừng nổ ra cuộc đảo chính Diệm; sau ấn định vào 1.11) phải làm gì có tính cách bạo động rồi trở thành vương tướng, phú quý song toàn” (!) Câu ấy hàm ý kích động Kỳ tham gia quân đội lật đổ Ngô triều.

Tử vi của ông này (Kỳ) có báo trước là một ngày nào đó ông ta sẽ đi tù không?

Kỳ viết: “Một lần nữa lão thầy bó nghiền ngẫm những biểu đồ và sách vở của ông ta rồi quyết đoán: Không, suốt đời ông này sẽ không bao giờ đi tù cả”.

Câu hỏi đó của Đỗ Mậu là câu trả lời “không bao giờ đi tù” của ông thầy bói nhằm trấn an Kỳ. Vì từ lời “thầy” mà suy ra, đảo chính bị “hụt”, Kỳ vẫn an toàn không bị ở tù chi cả, vì “số” là như thế (!).
Đến câu hỏi này mới thật cột nhau vào thế kẹt: “Số này (của Kỳ) có phản bội tôi (Đỗ Mậu) không?”
Minh Lộc khẳng định: “Không, bởi nếu phản bội sẽ bị chết bất đắc kỳ tử”. Đỗ Mậu thưởng cho thầy tử vi một trăm đồng bạc rồi ra về: “Trước khi chia tay, Kỳ thề suốt đời giữ trọng lòng trung nghĩa đối với tôi. Sau này Kỳ phản tôi, cùng với nhóm tướng trẻ cô lập tôi ở Kon Tum, tại Nha Trang nhưng Kỳ đã không chết bất đắc kỳ tử, vả lại trong thâm tâm tôi cũng thật lòng không muốn ai phải chết bất đắc kỳ tử…”.

Tuy không “bất đắc kỳ tử nhưng tiếng đồn không mấy hay ho về Kỳ (và Thiệu) tăng dần theo số quân Mỹ từng vào VN tham chiến mà đến Giáng sinh năm 1965 đã lên 184.000 (so với tháng 7.1965 chỉ mới 81.400 quân – số liệu dẫn từ Mc Namara).

Giữa năm đó, thuốc phiện cũng được thả dù xuống cao nguyên Trung phần sau khi bí mật đưa lên máy bay gần Savanakhet của Lào. Một số trong đó “lọt” vào chiếc chuyên cơ của Nguyễn Cao Kỳ với sự “hợp tác” của cả Thiệu, Nguyễn Hữu Có, Vĩnh Lộc, Cao Văn Viên.

Khi chuyến bay sắp cất cánh rời Pleiku về Sài Gòn thì bị phát giác và la ầm lên bởi viên Tư lệnh Quân đoàn I vùng I chiến thuật: Nguyễn Chánh Thi! Nguyễn Hữu Có (Tổng ủy viên quốc phòng) chặn không cho Thi tới gần máy bay chở thuốc phiện. Ức khí, Thi gằn giọng:

-Định bán cho ai?

(Còn tiếp…)

Mai Nguyễn

(Một Thế Giới)
Nguyen Cao Ky
                                                                Ảnh: Nguyễn Cao Kỳ

Câu chuyện của tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ sẽ mở đầu loạt bài Hồi ký tướng tá Sài Gòn xuất bản ở hải ngoại mà báo điện tử Một Thế Giới giới thiệu để đem đến cho độc giả những góc nhìn rõ hơn về bối cảnh lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ. 

Loạt bài này được thực hiện bởi tác giả Mai Nguyễn, là bút danh khác của nhà báo, nhà khảo cứu Giao Hưởng. Ông cũng là tác giả của loạt bài "Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay"đang được nhiều độc giả quan tâm trên báo Một Thế Giới. 

Đối với anh em ông Diệm, 1.11.1963 là ngày kết thúc giấc mơ quyền lực kéo dài 9 năm. Nhưng với nhiều người khác, mới chỉ là thời khắc phôi phai những “mộng ban đầu”. Nguyễn Cao Kỳ chẳng hạn, thừa nhận: “Đối với tôi mọi việc bắt đầu từ ngày hôm ấy”!

Lẽ ra, “mọi việc bắt đầu” sớm hơn một ngày. Vì theo dự tính, đảo chính nổ ra vào 31.10.1963 nhưng tướng Dương Văn Minh quyết định hoãn lại 24 tiếng đồng hồ. Thay đổi giờ chót đó do sơ suất không báo kịp đến Nguyễn Cao Kỳ nên Kỳ vẫn “độc diễn” phần việc được giao: Ông ta tập hợp khoảng gần 200 binh lính và sĩ quan dưới quyền vào một nhà kho lớn chứa máy bay trong căn cứ không quân Tân Sơn Nhất.

Theo kế hoạch, ông cầm chân họ tại lớp học tâm lý chiến mà mình chủ trì sao cho đến 1 giờ trưa để đợi tín hiệu là tiếng xe tăng tiến vào căn cứ quanh chỗ tập họp. Nhận tín hiệu, ông sẽ bất thần tuyên bố: “Đảo chính bắt đầu”, và phát lệnh hành động.

Nhưng, theo một VIP, K.K (sếp quân đội) kể lại, đến 1 giờ kém 5 phút, Kỳ “lắng tai nghe vẫn không thấy động tĩnh gì hết”; 1 giờ đúng: vẫn vậy!. VIP thuật: Năm phút sau “nghe tiếng động cơ hình như tiếng chiến xa vô (như tín hiệu đã báo), Kỳ lật đật xô ghế đứng dậy, chưa kịp tuyên bố thì một trung úy chạy vô cho biết đó là tiếng của một trực thăng Mỹ đang đáp” chứ chẳng phải xe tăng xe tiếc gì cả. May quá, Kỳ kịp ngậm miệng bước xuống, chưa hô “đảo chính” ai cả. Đợi thêm tới 1 giờ 30 trưa đó (31.10) đành giải tán, quay về gặp tướng Minh và trách: “Tại sao đình lại mà không cho biết, suýt một chút là chết hết cả đám!”. Ông Minh xin lỗi vì quên thông báo.

Thật là một cái quên chết người và rất “khó quên”!

Nguyen Cao Ky

Đúng 1 giờ 30 trưa hôm sau 1.11, không phải Nguyễn Cao Kỳ, mà Dương Văn Minh tuyên bố: “Đảo chính bắt đầu” và tước vũ khí các tướng tá phe Diệm. Lúc đó, Nguyễn Cao Kỳ đang…ăn trưa tại một nhà hàng Sài Gòn. Tài xế ông ta từ căn cứ phóng xe tới phanh rít trước cửa, chạy vào kêu: “Trung tá trở về căn cứ ngay. Có chuyện lạ đang xảy ra”. Lập tức, Kỳ vọt ra xe đích thân cầm lái phóng như bay về Tân Sơn Nhất. Đến cổng, Tham mưu trưởng không quân là đại tá M. chặn lại la lớn: “Trời! Có anh đây rồi! Đảo chính đã bắt đầu và chúng tôi muốn anh bắt đại tá Nguyễn Hữu Hiền!”.

Đại tá Hiền là tư lệnh không quân, vốn chơi thân với Ngô Đình Nhu. Kỳ chụp một cây súng tiểu liên, lái xe thằng đến văn phòng Bộ Tư lệnh Không quân, một mình gõ cửa bước vào. Đại tá Hiền dường như đoán trước việc phải xảy đến, ông ta ngồi yên trên bàn viết, Kỳ lễ phép: “Thưa đại tá tư lệnh, đại tá đã bị bắt giữ”.

Ông ta không mấy ngạc nhiên trước diễn biến bất lợi cho mình đó. Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ viết: “Ông Hiền là một phi công xuất sắc, và trong vòng mấy tháng tôi đã có thể vận dụng ảnh hưởng của tôi để tìm cho ông ta một việc làm ở hàng không Việt Nam. Không bao lâu, ông ta được giao cho lái một phản lực lớn, lãnh được nhiều tiền hơn hẳn số tiền mà chẳng bao giờ tôi hy vọng lãnh được với tư cách là tư lệnh không quân”.

Sau khi bắt giữ đại tá Hiền, lúc gần 3 giờ chiều, cuộc tiến công tuy “ít đổ máu nhưng tốc độ là điều sống còn” đó bị chận lại vì lực lượng trung thành phòng vệ Phủ Tổng thống chống trả quyết liệt.

Trần Thiện Khiêm điện khẩn bảo Nguyễn Cao Kỳ “hành động ngay”. Kỳ lệnh lấy vài chiếc máy bay và bay ngay bên trên dinh tổng thống ở cao độ thấp để gây khiếp sợ, rồi bắn một vài tên lửa xuống thành lớn của bộ phim đóng gần dinh: “Sau khi họ bắn chỉ có hai tên lửa: quân giữ thành của Diệm đầu hàng. Đối với tôi đó là một giây phút lịch sử không phải chỉ vì đã làm thay đổi được cán cân trong việc lật đổ chế độ Diệm mà lần đầu tiên, với cương vị một người không quân, tôi còn thí nghiệm được giá trị của sức mạnh không quân khi được sử dụng để yểm trợ bộ binh khi gặp khó khăn. Tôi quả quyết rằng nếu tôi không ra lệnh hai chiếc máy bay nhỏ đó cất cánh thì cuộc đảo chính đã thất bại”. (Chúng ta đã thua trận ở Việt Nam như thế nào? – Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ) *. Mười ngày sau, bước xuống máy bay sau một chuyến đi dự lễ bên ngoài Sài Gòn, tướng Minh bảo: “Kỳ à, tôi đã quyết định bổ nhiệm anh làm tư lệnh không quân”.

Sang năm 1964, Kỳ tiếp tục thăng tiến trong bối cảnh Mỹ muốn dùng “nhóm tướng trẻ” như Kỳ để mở rộng chiến tranh. Tháng 4 năm đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara đến Việt Nam cao hứng hô khẩu hiệu: “Việt Nam muôn năm” bằng tiếng Việt, sau đó tăng viện trợ quân sự lên 50 triệu đôla để Sài Gòn bắt thêm 50.000 thanh niên vào lính, huấn luyện và tung 7.500 cán bộ “dày xéo nông thôn”, tăng cường hải lục không quân và kho bãi hậu cần, quân tiếp vụ.

Đầu năm 1965, Kỳ đã được phong tướng, làm ủy viên ngoại giao của thường vụ Hội đồng Quân lực Sài Gòn, tán thành sự kiện Mỹ đưa lực lượng thủy quân lục chiến đầu tiên tới Đà Nẵng tham chiến và ném bom miền Bắc. Sau khi đích thân lên máy bay chào từ biệt Nguyễn Khánh trong ngày Khánh ra nước ngoài, Kỳ và “nhóm tướng trẻ” nắm lấy quyền bính, loại thằng cò các “tướng già”, muốn độc quyền đứng dưới bóng tòa đại sứ Mỹ.

Đến giữa năm 1965, sau một loạt các biến động, chính phủ do ông Phan Huy Quát làm thủ tướng lung lay, dẫn đến cuộc họp triệu tập vội vàng đêm 12.6 với sự có mặt của quốc trưởng Phan Khắc Sửu mà Nguyễn Cao Kỳ ghi lại qua những dòng không mấy văn vẻ, đôi chỗ giọng điệu hơi xấc:

“Sửu có mặt tại phiên họp – với phần xác chứ không phải phần hồn, bởi vì không có một ai có thể bàn luận nghiêm chỉnh với ông già này về bất cứ một vấn đề gì được. Sửu luôn luôn nói lải nhải, giảng thuyết không mạch lạc về nguyên tắc thượng tôn pháp luật và cách xử sự khi làm chính trị. Rốt cuộc bất thình lình, Quát đập mạnh xuống bàn và không có một lời mở đầu nào cả, đã nói một cách cộc cằn: Tôi xin từ chức. Vì hội đồng quân lực đã chỉ định tôi làm thủ tướng, hôm nay tôi xin giao trả quyền hành thủ tướng lại cho hội đồng quân lực”.

Như vậy, sau các “tướng già” bị loại, đến lượt các “chính khách già” tự phủ nhận đứng bên lề chính trường. Kỳ (và Thiệu) mau chân nhảy lên “bàn tiệc quốc gia” sau đêm đó.

Tìm Thủ tướng mới, Thiệu bảo: “Để cho thằng Kỳ làm!”

Cuộc họp trên kéo dài từ 8 giờ tối đến 12 giờ rưỡi khuya tạm ngưng. Sáng hôm sau, họp tiếp tại tổng hành dinh Bộ Tư lệnh Thủy quân lục chiến để cử thủ tướng mới thay ông Quát. Có 50 thành viên cấp cao của Hội đồng Quân lực và “nội các rệu rã” ngồi hai ngày một đêm để chỉ định người vào chức vị ấy.

Nguyễn Văn Thiệu bấy giờ là trung tướng được ông Kỳ đề cử. Nhưng Thiệu từ chối và đề cử “ngược lại” Kỳ. Kỳ lúc đầu đẩy đưa qua Nguyễn Chánh Thi kèm theo lời “bình loạn” công khai trước mặt Thi: - Xét cho cùng, hình như thiếu tướng là người có đủ điều kiện để lãnh đạo. Thiếu tướng có ý thích chính trị nhiều hơn hầu hết các tướng lĩnh  khác và thiếu tướng khoái được nổi tiếng!

Nghe xong Nguyễn Chánh Thi nổi quạu, không chỉ từ chối một lần mà đến cả chục lần đây đẩy: “Không! Không! Không!” trong suốt hai ngày “nghị sự”. Cuộc họp “nghỉ ăn trưa với bánh “xăng-quych” và uống bia với nước ngọt Hoa Kỳ và khi chúng tôi nhóm lại, tôi đã đề cử tướng Có”. Ông Kỳ kể như vậy và tiếp “Có cũng từ chối”, mệt lả, cả hội trường tạm đình phiên họp vào 10 giờ đêm, ngủ và ăn cơm tối tại chỗ.

Sáng sau nữa, “bầu” tiếp chưa xong, nghỉ uống cà phê, bất ngờ Thiệu bước về phía Nguyễn Cao Kỳ nói thẳng: “Kỳ, tại sao anh không nhận làm thủ tướng?”. Rồi vào họp, theo hồi ký của ông Kỳ, Thiệu nói với giọng van nài:

-Yêu cầu anh Kỳ đứng ra thành lập chính phủ!

Nhưng sau lưng Kỳ, ông Thiệu kêu Kỳ bằng “thằng”, đã khoèo Nguyễn Chánh Thi ra đứng riêng (như hồi ký của Thi kể) mà thì thầm vào tai:

-Để cho thằng Kỳ làm đi!

Đến khi Nguyễn Cao Kỳ nhận lời làm “thủ tướng” được một tháng (bấy giờ Thiệu lên làm quốc trưởng) bèn bảo Kỳ:

-Chúng ta phải tổ chức một buổi lễ liên hoan.

Kỳ có hơi “ngớ người” hỏi lý do vì sao mở tiệc? Thiệu bảo: “Thì chính phủ của anh đã tồn tại được một tháng rồi!”. Câu ấy hàm ý là “cái chính phủ” của Kỳ lẽ ra phải bị ngã đổ một, hai tuần sau khi ra mắt kia chứ. Tồn tại một tháng là “kỳ tích” đáng liên hoan rồi! Mặc kệ Thiệu mỉa mai, nhân đó hàng tháng Kỳ cùng các đồng sự mở tiệc!

Cuộc họp trên có thể xem là một trong các điển hình về sinh hoạt chính trị bát nháo trên sân khấu Sài Gòn tả-pí-lù thời đó. Mà “Thủ tướng” Kỳ, vốn người trong cuộc, đã phải thốt lên là “đáng buồn cười”. Không lâu sau, với sự hỗ trợ của Mỹ, thế lực phe Kỳ nhanh chóng át hẳn Thiệu từ hội nghị Honolulu. Nhưng rồi Thiệu quật lại vào cuối năm 1967 lên làm “tổng thống”, đẩy Kỳ xuống hàng “phó”. Đầu những năm 1970. Kỳ thất thế hẳn so với Thiệu, tạm lui vào vòng tay người đẹp Đặng Tuyết Mai lúc ấy đã thành vợ mình và bắt đầu sống với những hồi ức. Trong đó tiệc cưới Kỳ - Mai có tiếng nổ đôm đốp của 7.800 chai sâm – banh mở đầu những ngày  “mộng dưới hoa” ? Thử giở lại hồi ký những trang đầu Kỳ chép…(còn nữa)

Mai Nguyễn   

(*)Trích theo bản của TTXVN