Select Menu

Ads

Random Posts

Được tạo bởi Blogger.

Design

Technology

Circle Gallery

Shooting

Racing

News

Bottom

50 năm ca khúc The Sound of Silence

Cách đây 50 năm, "The Sound of Silence" là ca khúc đầu tiên đưa tên tuổi của Simon & Garfunkel lên hạng nhất thị trường quốc tế, giúp cho ban song ca người Mỹ trở thành một trong những nhóm tiêu biểu nhất của hai thập niên 1960 và 1970. Ca khúc này thật ra có đến hai phiên bản hòa âm, ăn khách nhất vẫn là phiên bản thứ nhì, phát hành vào mùa thu năm 1965.

The Sound of Silence, cả ca từ lẫn giai điệu đều do Paul Simon sáng tác. Theo lời của chính tác giả, ca khúc này đã được viết năm anh 22 tuổi, rồi được ghi âm vào tháng Ba năm 1964 cho album đầu tiên của nhóm. Ca khúc có lối hoà âm rất mộc, tiếng hát của Paul Simon chỉ được đệm bằng đàn ghi ta thùng và giọng hát bè của Art Garfunkel.

Hầu hết các ca khúc sáng tác cho album đầu tay của ban song ca đều được viết sau nửa đêm, do Paul Simon thường có thói quen thức khuya để soạn nhạc. Ca khúc cuối cùng mà anh viết cho album này được hoàn tất vào một ngày thứ Tư cho nên album đầu tay của nhóm mới mang tựa đề Wednesday Morning 3 A.M, có nghĩa là Thứ Tư ba giờ sáng …

Thế nhưng khi album được hãng đĩa Columbia phát hành, thì lại hoàn toàn gặp thất bại. Nhóm Simon & Garfunkel vì thế mà rã đám sau 7 năm hợp tác, cho dù hợp đồng ghi âm của nhóm vẫn chưa hết hạn. Thất vọng chán nản, Art Garfunkel đi học trở lại tiếp tục theo đuổi ngành kiến trúc, còn Paul Simon thì rời Hoa Kỳ sang Luân Đôn hy vọng gầy dựng lại bước đầu sự nghiệp …

Tưởng chừng mọi chuyện đã an bài, nhưng bất ngờ thay, lại có đột biến vào giờ phút chót. Nhà sản xuất Tom Wilson sau khi hợp tác với Bob Dylan (trên ca khúc Like a Rolling Stone) nhận thấy rằng bản nhạc The Sound of Silence có rất nhiều tiềm năng, nhưng lối hoà âm lại thiếu sức thuyết phục. Cùng với một số nhạc sĩ (Al Gorgoni, Bob Bushnell, Buddy Salzman …), nhà sản xuất Tom Wilson thực hiện một bản phối thứ nhì mà không hề vấn ý ban song ca Simon & Garfunkel.

Phiên bản hòa âm mới sử dụng lối phối khí của ban nhạc rock The Byrds, giữ nguyên cách hát mộc của Simon & Garfunkel, nhưng thay thế đàn ghi ta thùng bằng một dàn nhạc kết hợp bộ trống, đàn bass và ghi ta điện. Kết quả là vào tháng 9 năm 1965, khi được phát hành lần thứ nhì dưới dạng đĩa đơn, nhạc phẩm "The Sound of Silence" lọt vào danh sách 50 ca khúc ăn khách nhất, đến đầu năm 1966, bài hát giành lấy ngôi vị quán quân của bảng xếp hạng Billboard. Vào lúc đó Paul Simon đang viếng thăm thủ đô Đan Mạch, mới tình cờ khám phá phiên bản mới này.

Nửa ngạc nhiên, nửa bực mình (mà thử hỏi có tác giả nào mà không bực bội khi thấy người khác sửa đổi tác phẩm của mình mà không hỏi trước), Paul Simon mới gọi điện thoại cho ông Tom Wilson để hỏi đầu đuôi câu chuyện. Ngoài miệng, Paul Simon nói rằng anh không thích phiên bản hòa âm thứ nhì, nhưng trong thâm tâm anh phải thừa nhận rằng lối hòa âm này tân kỳ, hiệu quả và ăn tiền hơn nhiều so với phiên bản đầu tiên.

Dù gì đi nữa nhờ thành công của The Sound of Silence phiên bản thứ hai mà ban song ca Simon & Garfunkel mới tái hợp và trở lại phòng thu để ghi âm các album kế tiếp, trong số sáu tập nhạc mà nhóm này đã ghi âm với nhau thành công nhất vẫn là tập nhạc Bridge Over Troubled Water (tạm dịch Nhịp cầu trên nước đục) và tập nhạc chủ đề của bộ phim The Graduate với Dustin Hoffman trong vai chính.

Theo giới phê bình, The Sound of Silence là một trong những ca khúc độc đáo nhất của ban song ca Simon & Garfunkel. Không phải ngẫu nhiên mà Hiệp hội các tác giả Hoa Kỳ xếp bài này (hạng 79) trong số 100 bài hát hay nhất thế kỷ XX. Còn tạp chí chuyên ngành Rolling Stone đưa bài này (hạng 157) vào danh sách 200 ca khúc hay nhất mọi thời đại. Với hơn 500 phiên bản ghi âm trong đủ mọi thể loại và được dịch sang nhiều thứ tiếng kể cả hai phiên bản tiếng Pháp với hai lời khác nhau (La voix du Silence của Richard Anthony và Chanson d’Innocence của Gérard Lenorman), ngoài ra còn có tiếng Đức, Thụy Điển, tiếng Hoa, tiếng Ý …

The Sound of Silence cũng nằm trong số mười ca khúc rất quen thuộc mà tất cả những ai thích chơi đàn ghi ta thùng cũng đều muốn học thuộc lòng. Bản nhạc cũng thường xuyên được sử dụng làm nhạc phim, ít nhất là 7 lần trong nửa thế kỷ vừa qua, kể cả phiên bản ghi âm chính gốc của Simon & Garfunkel hay là phiên bản cover do các nghệ sĩ khác ghi âm lại.

Về nội dung, thì Paul Simon viết bài này khi còn là sinh viên khoa văn cho nên anh mới dùng nghịch dụ Tiếng thầm The Sound of Silence làm tựa đề bài hát. Trong nguyên tác, nhạc phẩm The Sound of Silence có lối hòa âm rất mộc. Trong phiên bản thứ nhì, ngoài lối hòa âm với tiếng bass và đàn guitare điện, chuyên gia âm thanh Roy Halee còn tạo thêm hiệu ứng âm thanh vang thầm như trong ca từ bài hát có nhắc đến (and echoed in the wells of silence), nhờ vậy mà The Sound of Silence càng có thêm ý nghĩa phong phú.

Khi kết hợp hai hình tượng đối chọi trái ngược với nhau, tác giả Paul Simon muốn vạch trần nghịch lý của xã hội tiêu thụ và chủ nghĩa cá nhân. Cuộc sống càng hiện đại, con người càng cô đơn. Trong đám đông ồn ào, người ta nói chuyện nhưng vẫn không hiểu nhau, cho dù sống bên cạnh, nhưng chưa chắc gì đã gần gũi. Chốn đô thị huyên náo, con người không biết chia sẻ, vì họ không còn lắng tiếng âm thầm trong điệu nhạc con tim, cung bậc cảm xúc chùn bước tâm hồn. Sự trống trải tẻ nhạt khi ta chỉ có một mình, không đáng sợ bằng nỗi cô độc tột cùng, dù có biết bao người đang ở xung quanh.

Cách hát mộc của Simon và Garfunkel thể hiện cho góc tối nội tâm, thì thầm nhắn nhủ như người bạn tri âm trong đêm khuya trăn trở (hello darkness my old friend). Còn tiếng đàn minh họa cho cảnh vật bên ngoài, khi con người mù quáng chạy theo lối sống hiện đại (people bowed and prayed to the neon god they made). Giữa một bên là âm thanh tiếng động, còn một bên là sự im lặng yên tĩnh, The Sound of Silence là lời tự nhủ, nhắn gửi cho chính mình, khi con người cô đơn chỉ còn bóng tối làm bạn. Trong đêm khuya, sự im lặng tạo ra tiếng vọng âm thầm, và dường như ta chỉ nghe được tiếng động thầm lặng ấy không phải bằng trí óc mà là bằng trái tim.

Tuấn Thảo

(RFI)
30 năm tình khúc Nothing Gonna’s Change My Love


Cách đây đúng 30 năm, một bài hát được phát hành trên thị trường đĩa nhạc quốc tế nhưng lại không ăn khách. Mãi đến hai năm sau, khi ca khúc này được ghi âm lại với một giọng ca khác thì bài hát lại phá kỷ lục số bán. Trường hợp của nhạc phẩm Nothing Gonna’s Change My Love for You, một trong những tình khúc nổi tiếng nhất những năm 1980 cũng như của bộ vựng tập La Tinh.


Trong nguyên tác, bài hát Nothing Gonna’s Change My Love for You, do hai tác giả Gerry Goffin và Michael Masser sáng tác cho nam danh ca người Mỹ George Benson. Tài nghệ chơi đàn ghi ta cũng như ca hát của ông thì khỏi phải chê. Trong vòng 40 năm sự nghiệp, George Benson đã ghi âm 36 album và đoạt 10 giải Grammy, trong đó có 8 giải dành cho 4 album phát hành trước năm 1984.

Nhạc phẩm Nothing Gonna’s Change My Love for You (Không có gì thay đổi tình ta) được George Benson ghi âm và phát hành lần đầu tiên vào tháng Giêng năm 1985, trên album studio thứ 20 của ông, cho nên tập nhạc này mới có tựa đề là 20/20, và cũng được xem là một trong những album hoàn chỉnh ưng ý nhất của George Benson. Thế nhưng, bản nhạc tình lại không ăn khách cho lắm cho dù album thứ 20 của George Benson đã đạt tới mức đĩa vàng.

Mãi tới hơn hai năm sau, vào tháng Ba năm 1987, bản nhạc "Nothing Gonna’s Change My Love for You" mới thành công trên toàn thế giới nhờ vào phiên bản ghi âm lại (cover) của ca sĩ trẻ tuổi Glenn Medeiros. Sinh trưởng ở đảo Hawaii trong một gia đình người Mỹ gốc Bồ Đào Nha, Glenn Medeiros bắt đầu đi hát từ năm lên 10, nhưng anh không nghĩ là mình sẽ có cơ hội đến thành phố lớn để lập nghiệp.

Vào năm 17 tuổi, cậu thiếu niên giành được giải nhất nhân một cuộc thi hát mầm non tổ chức trên đài phát thanh địa phương. Nhờ vậy mà anh ký hợp đồng với một hãng đĩa độc lập, ghi âm lại bản nhạc "Nothing’s Gonna Change My Love for You".

Sông có khúc, người có lúc. Bản nhạc tình cờ lọt vào tai của một ông giám đốc đài phát thanh FM ở Phoenix, trong lúc ông đang đi nghỉ mát tại Hawaii. Nghe thấy bài hát này quá hay cho nên ông giám đốc mới mua vài cuộn CD để đem từ đảo Hawaii về tới bang Arizona.

Đến khi được phát sóng ban đầu là trên các đài địa phương rồi sau đó trên toàn quốc, bài hát này nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt của thính giả, đến nỗi họ thường xuyên yêu cầu cho phát phiên bản của Glenn Medeiros, cho dù bài này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi qua băng đĩa, trong khi bản gốc của George Benson thì đã có sẵn nhưng lại ít được công chúng yêu cầu.

Chỉ vài tháng sau đó, một khi được phát hành rộng rãi vào mùa hè năm 1987, phiên bản cover của Glenn Medeiros giành lấy hạng nhất thị trường Canada, hạng tư ở Hoa Kỳ. Còn tại các nước châu Âu, bài hát cũng chiếm hạng đầu thị trường Anh, Pháp, Ai Len, Hà Lan, Tây Ban Nha (vào năm 1988), đứng hạng nhì tại các nước Bỉ, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển ….. giới trẻ lên cơn sốt cho một ca sĩ bảnh trai 17 tuổi, mà không hề biết bản gốc là của ca sĩ George Benson.

Tưởng chừng sự thành công sẽ dừng lại ở đây. Nhưng không, sau tiếng Anh, Glenn Medeiros ghi thêm một phiên bản khác bằng tiếng Tây Ban Nha, với tựa đề là Nada Cambiará Mi Amor Por Ti (lời bài hát tiếng Tây Ban Nha là của tác giả Rolando J. Hernandez).

Một cách tương tự bài hát này nhanh chóng thị trường châu Mỹ La Tinh kể cả Brazil, Mêhicô và các nước Nam Mỹ. Ban đầu là một bản ballad, bài hát này sau đó được chuyển thể qua các thể điệu ăn khách ở Nam Mỹ như salsa, cumbia, bachata hay là pop La tinh.

Tính vào giữa những năm 1980, bản nhạc này đã có hơn 50 phiên bản. 30 năm sau ngày ra đời, số phiên bản đã được nhân lên gấp 10 lần, trong ít nhất là 7 thứ tiếng khác nhau. Tại các nước Âu Mỹ, ngoài bản gốc của George Benson, và bản thứ nhì của Glenn Medeiros còn có phần ghi âm lại của nhóm Air Supply, Engelbert, John McCook, nhóm The Shadows hay là ban nhạc người Ai Len Westlife.

Phiên bản "Nothing Gonna’s Change My Love for You" của Westlife ghi âm trên album thứ chín của nhóm (The Love Album) đã giúp cho ca khúc này ăn khách trở lại vào năm 2006, mở đường cho một loạt ghi âm khác cho các nghệ sĩ trẻ sau này.

Tại châu Mỹ La Tinh, người đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Tây Ban Nha là ca sĩ người Argentina Sergio Denis (năm 1985), sau đó đến phiên ban nhạc Grupo Lluvia người Mêhicô, phát hành vào năm 1989. Phiên bản tiếng Bồ Đào Nha thì ăn khách (vào năm 2000) qua phần trình bày của ba chị em trong ban tam ca người Brazil SNZ (con của hai nghệ sĩ Baby Consuelo và Pepeu Gomes).

Tại châu Á, bài hát này từng được giới nghệ sĩ Nhật Bản như Keiko Lee và Philippines Cesar Montano ghi âm lại. Ca sĩ kiêm diễn viên người Hồng Kông David Lui phát hành một phiên bản tiếng Quảng Đông vào năm 1986. Phiên bản xen kẽ cả lời tiếng anh lẫn tiếng Việt là của nam ca sĩ trẻ tuổi Quách Tuấn Du. Còn giọng ca người gốc Đài Loan Khalil Fong đã cover bài này trên album Timeless phát hành vào năm 2009. Một trong những phiên bản trội nhất là của Joo Young nam ca sĩ người gốc Hàn Quốc, trình làng vào năm 2010.

Do tình khúc Nothing Gonna’s Change My Love for You thành công quá rực rỡ, lập kỷ lục số bán, với gần 10 triệu bản bán chạy trong năm 1987, cho nên sau đó, Glenn Medeiros khó thể nào mà lặp lại thành tích này. Tuy ăn khách với vài đĩa đơn sau đó, kể cả bản song ca với ca sĩ Pháp Elsa (Love Always Finds a Reason, tựa tiếng Pháp là Un Roman d’Amitié), và một bài hát chung với Bobby Brown (chồng của Whitney Houston sau này), nhưng Glenn Medeiros vẫn không thoát khỏi cái bóng quá lớn của bài hát đã giúp cho anh thành danh vào năm 17 tuổi. George Benson thì tiếp tục ghi âm đều đặn và đi biểu diễn cho tới tận bây giờ, trong khi Glenn Medeiros sau vài album ghi âm thì lại tắt tiếng.

Dù gì đi nữa, Nothing Gonna’s Change My Love trở thành một trong ữnhng trường hợp khá tiêu biểu. Đôi khi một giai điệu hay chưa chắc gì đã dễ ăn khách. Bài hát có thêm hay là nhờ vào cái tài diễn đạt của một giọng ca, nhưng thành công hay không là còn tùy thuộc vào thời điểm phát hành và sự đẩy đưa của cơ duyên số phận.

Giả sử như không có ông giám đốc đài phát thanh Phoenix đi nghỉ mát ở Hawaii, thì giọng ca của Glenn Medeiros dù có hay cách mấy, cũng chỉ được phổ biến trên hòn đảo ngoài khơi Thái Bình Dương mà thôi. Nhờ được phát hành thật đúng lúc tại Hoa Kỳ, cho nên giữa công chúng với giọng ca Glenn Medeiros mới có sự bén duyên kỳ ngộ, và cũng từ đó mà không có gì có thể thay đổi tình ta.

Tuấn Thảo

(RFI)
image

Cuối tháng 8/2015, nhiều sân khấu dựng lại kịch của Lưu Quang Vũ như một cách để nhớ về một tài năng hiếm có của Việt Nam. Không khác gì các kịch bản lừng danh mang đầy tính dự báo về thời cuộc, con người… của ông, sự ra đi của ông cũng là một dự báo về xã hội với sự hỗn loạn trên các đường chạy mà số phận con người cũng mỏng manh không khác gì trong chiến tranh.

Nhớ lại những ngày tháng đó, với người miền Nam, thật không dễ mà sớm chấp nhận các vở kịch từ phía Bắc tiến vào kinh đô sân khấu của mình từ sau 1975. Cuộc chiến tranh dăng dẳng cùng với những khác biệt bị vun đắp chủ ý đã khiến mọi thứ trở nên dè dặt và khép kín. Nhiều khán giả miền Nam đã coi đó là một ngôn ngữ nghệ thuật đầy sự khác biệt bởi giáo điều và nặng nề tinh thần chính trị, bên cạnh là những cái tên diễn viên, đạo diễn, biên kịch… đều rất xa lạ. Thế nhưng khi ngọn gió mang tên Lưu Quang Vũ lan đến, đã làm miền Nam, đặc biệt là giới thưởng thức, làm nghề ở Sài Gòn lúc ấy xôn xao.

Có một giai đoạn dài sau chiến tranh tương tàn ấy, người ta không dám nói thật, hoặc chỉ nói ‘thật’ theo những điều người khác muốn. Kịch của Lưu Quang Vũ làm trái tim khán giả Sài Gòn rộn rịp vì họ lại được thấy phần nào của sự thật, lẽ phải và ước mơ của mỗi con người đến tương lai, băng qua nghịch cảnh hiện tại.

Sau chiến tranh, việc tìm lại khán giả của sân khấu không dễ, một phần vì kinh tế khó khăn, một phần do tâm lý mệt mỏi của dân chúng. Thế nhưng những đêm kịch từ miền Bắc đem tới – đặc biệt không thu hút bằng những cái tên ngôi sao – nhưng lạ lùng là với cái tên Lưu Quang Vũ, luôn làm khán phòng không bao giờ còn một ghế trống. Trái tim trong trắng, Tôi và chúng ta, Lời thề thứ 9… cho người xem an ủi bằng cảm giác về hiện thực, về một sự thật, dẫu đó chỉ là một phần sự thật trên sàn diễn.

Trong tiểu sử sinh thời của Lưu Quang Vũ, ông có nhiều năm sau khi giải ngũ, chật vật kiếm sống bằng rất nhiều nghề trong một Hà Nội tan hoang vì bom đạn. Có lẽ đã chạm đến những số phận cùng cực nhất, đi qua những câu chuyện đời không bao giờ được ai nhớ đến… chính những trãi nghiệm đó, mà Lưu Quang Vũ chạm được đến trái tim từng khán giả bình thường qua ngòi bút của mình, như cho họ thấy chính mình trong đó.

Tôi vẫn còn nhớ một lần công diễn, khi diễn viên trên sân khấu cất lời nói chua cay “chúng ta đã trãi qua nhiều thời kỳ, từ đồ đá, đến đồ đồng, đồ sắt… nay thì đã đến thời kỳ đồ đểu”, cả khán phòng lúc ấy bật lên tiếng vỗ tay kéo dài bất thường. Tiếng vỗ tay không những tán thưởng một câu văn hóm hỉnh, thâm sâu, mà như nghe được ai đó giải cho mình một nỗi niềm mà vốn đau đáu không biết tỏ cùng ai.

Lưu Quang Vũ ra đi vào năm ông 40 tuổi, thời ngồn ngộn năng lực muốn cống hiến cho đời. Nhưng chỉ hơn 10 năm sáng tác, thật kinh ngạc Lưu Quang Vũ đã viết hơn 50 vở kịch, tạo nên một vệt sáng khó quên trên bầu trời kịch nghệ Việt Nam.

Không biết đến năm nào, mọi thứ trở nên quen dần, nhưng rất lâu sau ngày 1975, Người miền Nam thường không “nhập” được phong cách kịch miền Bắc, mà các nhà phê bình đường phố nói rằng lúc đó mang nặng phong thái kịch tuyên truyền của Nga. Loại kịch nặng nề hình thức mà chính đạo diễn lừng danh người Nga là K. Stanislavsky (1863-1938) từng nói rằng các kiểu cách ấy rồi sẽ khiến khán giả đoạn tuyệt với sân khấu. Trong một lần đến xem phần dàn dựng một vở về chiến tranh, khi chứng kiến phân đoạn các binh lính bị thương được đưa từ chiến trường vào phòng cấp cứu trong sự chậm chạp trầm buồn, cùng tiếng nhạc oai hùng, Stanislavsky đã quát lên và nói rằng “liệu các anh sẽ để đồng đội mình chết, chỉ vì mình muốn có vẻ trầm trọng oai hùng à? Tại sao phân đoạn đó không là sự hối hả cứu chữa và lo lắng hơn là giả dối bộ tịch?”.

Rất nhiều vở kịch trên truyền hình và sân khấu mới sau chiến tranh đầy bộ tịch đó, nhưng kịch của Lưu Quang Vũ là sự khác biệt, dù chịu ảnh hưởng ít nhiều của phong cách Nga. Kịch của ông thật như cuộc đời, chỉ khác kịch phải kết thúc có hậu, phải happy end (giới chính trị kiểm duyệt thích điều này), mà có thể Lưu Quang Vũ có muốn khác cũng không được.

Có người nói Lưu Quang Vũ mà còn sống đến hôm nay, chắc phải là được Nghệ sĩ nhân dân. Thật vô nghĩa! Những ngày tháng miệt mài viết nên những vở kịch lớn của đời, chắc ông chẳng bao giờ nghĩ về một danh hiệu. Người nghệ sĩ tài hoa ấy mượn bi kịch để dựng khát vọng cho đời, ấy vậy mà cuộc đời ông lại kết thúc như một bi kịch. Phải chăng, không những viết cho mọi người, mà ông cũng lặng lẽ viết một định mệnh cho chính mình?

Tuấn Khanh

(Blog Tuấn Khanh)
Gã không thể nhớ được chính xác đã bao lần xuôi ngược trên những chuyến tàu lửa xuyên Việt.
72 tiếng. 60 tiếng.58 tiếng.48 tiếng.

Chen chúc chỗ nằm trên sàn gần chỗ vệ sinh.

Chen chúc xếp cá mòi dưới cả gầm ghế, lĩnh nguyên một bãi bã trầu của một bà già quê vô Nam tìm mộ con chết trận.

Nhưng,những chuyến tàu của một thời khốn khổ xuyên bắc- nam ấy ai chỉ một lần đi khó mà quên.

Gã lắc lư võng.

Giữa hai hàng ghế cứng xí được một khoảng không để mắc võng là... thiên đường.

Mắc võng kế bên gã là một trai mặc áo lính cũ mèm. Thỉnh thoảng trai ấy nhổm lên hỏi trống không, ga đéo gì rồi. Ai đó trả lời, trai ấy lại nằm xuống. Nhưng rồi khi nghe ga... Gà. Trai đó tụt khỏi võng. Thiên hạ đổ xô ra các ô cửa sổ mua gà Quảng Ngãi.Trai ấy chả mua.Nhưng cô nào đi qua mặt trai ấy cầm gói thịt gà là trai ấy văng:

Gà cặc già em mua nhai gẫy răng à?

Em cho anh rờ , biết ngay gà được địt nhiều hay ít. Hơ, hơ, hơ.

Cứ thế , tục tĩu. Các cô các bà cứ thế mà đỏ mặt rần rần.

Duy nhất một cô em cùng ô với gã không hề đỏ mặt mà chớp chớp mắt, rươm rướm nước mắt.

Ga kế, trai ấy cuốn võng, đeo ba lô biến.

Cô em trẻ măng, xinh xẻo ra phết nhưng chắc cũng đi buôn cái gì đó. Thời buổi ấy ai mà chả đi buôn một cái gì đó. Gã cũng buôn. Dễ lắm. Tới ga nào cứ thấy mọi người nhao nhao mua trái gì, quả gì là gã nhờ  cô em xinh ấy chọn hộ, mua hộ, tới ga nào mọi người lại nhao nhao bán những thứ vừa mua ở những ga trước đó thì gã lại nhờ cô em xinh ấy trả giá hộ , bán hộ. Thế là gã có một khoản chênh lệch ngon ơ. 

Ai bảo đi tàu là khổ?

Gã mơ màng đánh võng đu đưa. (Nhại thơ Giang Nam)

Đèo Hải Vân. Trăng. Núi. Biển. Một con tàu xa xa.

Mọi người quá mệt với hành trình, khò khò hết, để mặc gã và cô em xinh kia bước qua những người nằm ngủ trên sàn tàu ra chỗ nối hai toa nhòm biển.

Nao nao lắm.Gió khoáng đạt. Tóc cô em tuy mấy ngày trên tàu không có nước để gội nhưng vẫn thoang thoảng chút hương đồng quê. Gã nhòm những đợt sóng kéo ánh trăng giữa khơi xa vào bờ. Còn cô em nhõn một nốt- con tàu khơi xa.

Em ước mình trên con tàu đó.

Gã hiểu.

Gã lẩm nhẩm làm thơ.

Biển ngoài xa kia biển biết gì.
Có một giấc mơ không chịu rời giấc ngủ...

Tiếp theo? Tịt. Bởi đột nhiên quầng ngực cô em khẽ cựa quậy vai gã.

Gã bần thần. Gã bối rối.

Qua một khúc cua, tàu hú còi dài.

Sắp vào hầm rồi. Cô em nói.

Nghĩa là sao? Ý em là thế nào? Gã tự hỏi. Nhắc nhở hay gợi ý?

Khi tàu lao vào cửa hầm. Trăng, biển, con tàu, cỏ hoa,vách đá, gió tất cả biến hết chỉ còn bóng đen bao trùm.Và, hơi thở nồng ấm của cô em.

Tim gã như ngưng đập.

Gã cảm thấy xấu hổ khi tàu chui ra khỏi hầm có một bộ phận cơ thể gã bị cứng đơ không biết giấu vào đâu.

Gã tự nhủ. Chờ vào hầm tiếp theo, mình sẽ ghì ôm cô em, mình sẽ không phải kìm hãm, giấu diếm gì sất.

Nhưng, cái gì qua đi sẽ vĩnh viễn qua đi. Gã không có được cái cơ hội của tình tang thêm một lần nữa.Cô em rời khỏi khoang nối hai toa để vào trong toa.

Hết. Ngốc.Thằng dở hơi.

Và rồi tới Nam Định.Cô em chuẩn bị xuống tàu.Gã cảm thấy sắp mất tất cả rồi. Gã bèn hối hả hỏi:
Em tên gì?

Cứ gọi em là Na.

Em làm gì?

Buôn.

Có thể tìm em ở đâu?

Những chuyến tàu.

Hết chuyện.

Im lặng. Tiếp tục im lặng. Thành phố Nam Định chỉ còn vài tiếng hú tàu thôi là đến rồi. Con tàu chậm lại. Đột nhiên gã nhớ lại giọt nước mắt của cô em tên là Na này khi trai kia văng tục.

Sao lúc ấy em lại khóc?

Im lặng.

Na chuẩn bị bê những chiếc sọt đánh quả ra đầu toa. Tiếng còi tàu hú dài báo hiệu vào ga.
Đoàn tàu Thống nhất 9  đã về ga Nam Định...tiếng loa vang lên.

Gã sách sọt giúp Na. Khi chuẩn bị bước  xuống, Na thóang nhìn gã rồi nói rất nhanh:

Anh ấy là bạn chiến đấu với anh trai em. Một trận ở  gần Quảng Ngãi cái ga mà anh ấy xuống ấy, anh trai em chết, anh ấy bị thương mất cái ấy. Anh ấy là anh hùng đấy. Anh vào Bảo tàng của Quân khu Năm có treo hình của anh ấy đấy.

Na xuống sân ga.Những người gánh hàng thuê hối hả gánh những chiếc sọt của cô em. Khi ra gần tới cổng ga, Na quay lại nhìn gã. Gã cảm nhận như cái nhìn ấy muốn nói rằng, những chuyến tàu, cuộc tình nếu có chỉ như con tàu ghé ga lẻ thôi mà.

Từ đó, gã đi nhiều chuyến tàu nữa dọc dài đất nước nhưng không một lần gặp lại Na. Mà chắc gì cô em ấy tên Na?

31.8.2015.

Không phải tự dưng hôm nay gã lại nhớ câu chuyện này. Đột nhiên mới đây gã nhận được một lời kết bạn từ một cô gái tên là Hoa Dương từ thành phố Munich (Đức). Hoa Dương kể: Cách đây 32 năm trên một chuyến tàu hỏa vào Nam, anh đã khuyên nhủ em khi thấy em khóc vì lần đầu xa nhà. Khi tới ga Nha Trang, nơi em được phân công dạy học anh đã mang hộ đồ cho em xuống ga. Anh hẹn sẽ tới thăm em khi qua Nha Trang. Anh có tin không em đã chờ suốt bao năm đấy cho đến khi em lên một con tàu vượt biên..

Lưu Trọng Văn

(FB Lưu Trọng Văn)
Vì sao Stand By Me trở nên kinh điển
                        Ben E. King ban đầu viết bài "Stand by Me" cho nhóm The Drifters (DR)

Chỉ cần nghe những nốt nhạc đầu trỗi lên, bất cứ ai cũng có thể nhận ra ngay nhạc phẩm Stand By Me của thần tượng nhạc soul quá cố Ben E. King. Nổi danh từ cuối những năm 1950, khi ông còn là thành viên của ban nhạc The Drifters, Ben E. King trong vòng nửa thế kỷ đã có hơn cả chục bài hát đứng nhất nhì bảng xếp hạng thị trường Bắc Mỹ, nhưng không có bài nào ngang tầm ‘’kinh điển’’ của bài Stand By Me.

Chỉ cần nghe những nốt nhạc đầu trỗi lên, bất cứ ai cũng có thể nhận ra ngay nhạc phẩm Stand By Me của thần tượng nhạc soul quá cố Ben E. King. Nổi danh từ cuối những năm 1950, khi ông còn là thành viên của ban nhạc The Drifters, Ben E. King trong vòng nửa thế kỷ đã có hơn cả chục bài hát đứng nhất nhì bảng xếp hạng thị trường Bắc Mỹ, nhưng không có bài nào ngang tầm ‘’kinh điển’’ của bài Stand By Me.

Qua đời trong tuần này tại bang New Jersey ở tuổi 76, ca sĩ kiêm tác giả Ben E. King vào nghề ca hát chuyên nghiệp năm ông tròn 20 tuổi. Những năm 1950 là thời kỳ huy hoàng của phong trào doo wop, chuyên kết hợp dòng nhạc phúc âm (gospel) với rhythm and blues. Các nhóm xuất thân từ phong trào này thường mang tên của các loài chim (bird groups) như họa mi, sơn ca, vành khuyên, hồng tước …. nhưng điểm nổi bật nhất là các nhóm chuyên sử dụng hợp ca đa âm, giọng ca chính (leading vocal) thường được hỗ trợ bởi các giọng ca tenor (nam cao, baryton (nam trung) và bass (nam trầm). Lối hát bè càng làm cho giai điệu rắn khung sắc nét mà vẫn thướt tha mượt mà.

Trong bước đầu sự nghiệp, Ben E. King vẫn giữ nguyên tên thật là Benjamin Earl Nelson khi chính thức đi hát từ năm 1958 với ban nhạc Five Crowns (Năm Vương Miện). Nhóm này sau đó được nhà sản xuất George McKinley Treadwell tuyển lựa để thay thế cho các thành viên của nhóm The Drifters. Từ đầu năm 1959, ban nhạc The Drifters liên tục thành công với một loạt ca khúc ăn khách như There Goes My Baby, This Magic Moment, Save the Last Dance for Me ….

Theo bộ phim tài liệu mang tựa đề Lịch sử của dòng nhạc Rock ‘n' Roll (History of Rock 'n' Roll), Ben E. King ban đầu viết bài Stand By Me cho nhóm The Drifters, chứ ông không có ý định ghi âm riêng. Thế nhưng, những bất đồng về mặt tài chính với nhà sản xuất George McKinley Treadwell, buộc nam ca sĩ phải tách ra khỏi nhóm. Khi bắt đầu đi hát solo, ông mới lấy nghệ danh là Ben E. King, chữ King (có nghĩa là Vua) để nhớ lại cái thời ông là thành viên của nhóm Năm Vương Miện (Five Crowns).

Bản nhạc Stand By Me được phóng tác từ bài ca theo truyền thống phúc âm Lord Stand By Me do mục sư Charles Albert Tindley hoàn chỉnh vào năm 1905.

Ben E. King mượn lại hai câu đầu tiên để soạn thành điệp khúc, nhưng ông loay hoay mãi mà vẫn chưa tìm ra được giai điệu nhập đề. Bài hát Stand By Me trở nên hoàn chỉnh nhờ vào sự giúp đỡ của hai tác giả Mike Stoller và Jerry Leiber.

Theo lời kể của Mike Stoller, hơn một nửa ca khúc là do chính Ben E. King sáng tác, phần còn lại là do sự hợp tác giữa ba tác giả. Nhờ được nuôi dưỡng bằng dòng nhạc phúc âm cho nên ông khá vững về nhạc lý, từ nền tảng đó, ông biết cách chọn giai điệu nào để phát huy thành điểm nhấn. Nhờ vào sự cộng tác của hai người bạn đồng nghiệp Mike Stoller và Jerry Leiber, Ben E. King lược bỏ những chi tiết rườm rà và nhất là ông tìm ra được một lối mở đầu hết sức đơn giản nhưng cực kỳ ăn tiền. Nói cách khác, ông sáng tác tối thiểu mà vẫn hiệu quả tối đa.

Lối sáng tác ấy được thu gọn trong hai trường canh, dùng tiếng bass làm khung, lặp đi lặp lại cùng một mô típ, thuật ngữ chuyên ngành gọi đó là ostinato, bộ trống không cần gõ mà cũng chẳng nện, mà lại thướt tha chà lướt. Cả ba tác giả dùng cách chuyển đổi những chùm hợp âm đơn giản ở cung la trưởng, liền kết các nốt nhạc thành một chuỗi giai điệu tuôn chảy tự nhiên. Về nội dung ý tứ, ca từ trong bài hát chuyển ý từ đạo (tôn giáo) sang đời (thế tục). Nguyên tác phúc âm ngợi ca niềm tin nơi Đức Chúa Trời, còn bản phóng tác thì lại nói lên sức mạnh của tình yêu tuyệt đối : cho dù vật đổi sao dời, trong tim vẫn chỉ một lời, biển cạn núi mòn vẫn đợi, bên nhau yêu mãi trọn đời.

Được phát hành vào năm 1961, rồi tái bản vào năm 1986 do là ca khúc chủ đề của bộ phim cùng tên (của đạo diễn Rob Rainer), nhạc phẩm Stand By Me đều giành lấy ngôi vị quán quân trên thị trường quốc tế đĩa nhạc (trong hạng mục RnB). Theo bình chọn của tạp chí chuyên ngành Rolling Stone, ca khúc Stand By Me đứng hạng 122 trong danh sách 500 bài hát hay nhất mọi thời đại. Còn hiệp hội các tác giả Hoa Kỳ xếp bài này ở hạng thứ 25 trong số 100 ca khúc hàng đầu của thế kỷ XX. Cách đây ba năm, Ben E. King được đưa vào đài danh vọng với tư cách của một tác giả. Gần đây hơn nữa, bài hát Stand By Me của ông được Thư viện Quốc hội Mỹ công nhận như một tác phẩm văn hóa nghệ thuật đầy giá trị.

Nhờ vào giai điệu đơn giản mà sâu lắng nhẹ nhàng, Stand By Me thoát khỏi lối sáng tác hơi rườm rà kiểu cách (thậm chí hoa lá cành) của các nhóm chuyên hát bè (doo wop) của những năm 1950, lối biểu diễn đầy chất soul của Ben E. King biết tiết chế cách rung giọng (vibrato), dồn nén mà vẫn biểu cảm, nghẹn ngào mà không ủy mị. Có lẽ cũng vì thế mà cho tới nay đã có hơn 400 phiên bản cover, trong đó có các bài ghi âm lại của nhiều tên tuổi lớn như Otis Redding, John Lennon, Seal, Tracy Chapman …. nhưng hầu hết các phiên bản sau cùng lắm chỉ ngang tầm chứ không thể nào mà vượt trội. Ngay cả chính tác giả Ben E.King, cho dù trong gần 50 năm sự nghiệp, ông đã có hơn 10 bài hát lọt vào Top Ten thị trường Bắc Mỹ nhất là trong giai đọan sáng tác dồi dào và sung túc nhất (từ năm 1960 đến năm 1987), nhưng tất cả các bài hát ăn khách của ông vẫn không thể thoát khỏi cái bóng quá lớn của ca khúc "Stand By Me."

Giới chuyên gia âm nhạc đã lấy tên của bài Stand By Me để đặt cho cách dùng chuỗi hợp âm trong cùng một cung trưởng, thu gọn trong hai trường canh (the "Stand by Me" changes hay là the 50s progression). Dĩ nhiên là trước đó cách liên kết này đã từng manh nha trong một số bài hát như bài La Mer (của Charles Trenet), Blue Moon (phiên bản của Billy Eckstine), Smoke Gets in Your Eyes (của nhóm The Platters), nhưng Ben E. King cùng với Mike Stoller và Jerry Leiber là nhóm tác giả đầu tiên đúc kết, hoàn chỉnh lối sáng tác này.

Rất nhiều ca khúc ăn khách của thập niên 1960 đều khai thác cùng một bí quyết sau đó : Let’s Twist Again của Chubby Checker, Diana của Paul Anka, Retiens la nuit của Johnny Hallyday, Tous les garçons et les filles của Françoise Hardy, La plus belle pour aller danser của Sylvie Vartan …. Những chùm hợp âm liên tục hoán chuyển, các nốt nhạc lần lượt kết nối thành một chuỗi giai điệu tuôn chảy gắn liền. Trong dòng tiết tấu liền mạch tự nhiên, phần điệp khúc lặp đi lặp lại ba chữ Stand By Me tựa như một câu thần chú thôi miên, nâng ca khúc của Ben E. King lên hàng kinh điển.

Tuấn Thảo

(RFI)

Mai Tú Ân - Hình khỏa thân nghệ thuật, loại hình ảnh nghệ thuật đã được tạo nên bởi sự tôn vinh cái đẹp tự nhiên và không thể phủ nhận về thân thể của người phụ nữ nhiều ngàn năm qua, của rất nhiều bộ môn nghệ thuật về cái đẹp Thiên Nhiên, cái đẹp Vĩnh Cửu . Và còn có cái đẹp nào đẹp, thánh thiện hơn và trường tồn hơn cái Đẹp thân thể của người phụ nữ. Đó là mục đích của sự hướng Thiện, hướng Mỹ và cũng là cái Đẹp muôn thuở, nguồn cõi sản sinh ra mọi cái đẹp ở trên đời...


Lâu nay nhiều người lầm tưởng rằng ảnh khỏa thân nghệ thuật là ảnh về thân thể người phụ nữ khỏa thân. Điều đó chỉ đúng một phần thôi, vì nói một cách thật tình thì thân thể người nào cũng căn bản là giống nhau. Nghệ thuật ảnh khỏa thân là chính do người tạo nên bức ảnh ấy. 

Họ là những nghệ sĩ và cũng phải lao động để cho ra đời những tác phẩm tốt nhất. Chỉ có những ảnh khiêu dâm, dung tục và rẻ tiền thì mới dựa vào người mẫu, còn ảnh KTNT thì phụ thuộc vào ánh sáng (quan trọng nhất), góc độ, tư thế cùng sự cảm nhận tinh tế về vẻ đẹp của người phụ nữ mà chỉ họ mới có. Nói tóm lại hình ảnh khỏa thân là tấm hình mà các nghệ sĩ đã tạo ra nó, mà người mẫu chỉ là một phần thội. Có nhiều nhà nghệ sĩ thể loại này và hiện giờ thì Thái Phiên và Dương Quốc Định là nổi bật nhất.

Và như một nghệ sĩ đã nói : Kẻ nào càng cảm nhận được vẻ đẹp thân thể phái yếu nói chung thì kẻ đó càng trân trọng người phụ nữ riêng, (tức là vợ, bồ) của kẻ đó.

Trên cơ sở cái đẹp, phi dung tục và thượng tôn người phụ nữ thì chúng ta hãy cảm nhận vẻ đẹp thánh thiện ấy nhé.




























(Blog Tôi Thích Đọc)




























-
Một hôm một người đàn ông trông thấy một bà lão với chiếc xe bị xẹp lốp đậu bên đường. Tuy trời đã sẩm tối anh vẫn có thể thấy bà đang cần giúp đỡ. Vì thế anh lái xe tấp vào lề đậu phía trước chiếc xe Mercedes của bà rồi bước xuống.

yêu thương, nhân qủa, giúp đỡ,

Chiếc xe Pontiac cũ kĩ của anh vẫn nổ máy khi anh tiến đến trước mặt bà. Dù anh tươi cười nhưng bà lão vẫn tỏ vẻ lo ngại. Trước đó khoảng một tiếng đồng hồ không một ai dừng xe lại để giúp bà. Nhìn bề ngoài của người đàn ông này, bà cụ lo lắng liệu anh có thể hãm hại bà không?

Người đàn ông đã có thể nhận ra nỗi sợ hãi của bà lão đang đứng bên ngoài chiếc xe giữa trời lạnh. Anh hiểu cảm giác lo sợ của bà như thế nào. Cái run đó, nỗi lo sợ trong lòng đó mới là lý do tự nó thành hình trong ta.

Anh nói: “Tôi đến đây là để giúp bà thôi. Bà nên vào trong xe ngồi chờ cho ấm áp? Luôn tiện, tôi tự giới thiệu tôi tên là Bryan Anderson”.

Thật ra thì xe của bà chỉ có mỗi vấn đề là một bánh bị xẹp thôi nhưng đối với một bà già thì nó cũng đủ gây phiền não rồi. Bryan bò xuống phía dưới gầm xe, tìm một chỗ để con đội vào và lại bị trầy da chỗ khuỷ tay cũng như lòng bàn tay một hai lần gì đó. Chẳng bao lâu anh đã thay được bánh xe nhưng anh bị dơ bẩn và hai bàn tay bị đau rát.

Trong khi anh đang siết chặt ốc bánh xe, bà cụ xuống và bắt đầu nói chuyện với anh. Bà cho anh biết bà từ St. Louis đến và chỉ mới đi được một đoạn đường. Bà không thể cảm ơn đầy đủ về việc anh đến giúp đỡ cho bà.

Bryan chỉ mỉm cười trong lúc anh đóng nắp thùng xe của bà lại. Bà cụ hỏi bà phải trả cho anh bao nhiêu tiền. Bryan chưa hề nghĩ đến là sẽ được trả tiền, đây không phải là nghề của anh. Anh chỉ giúp người đang cần được giúp đỡ vì Chúa, Phật hay chính bản thân anh cũng biết rằng đã có rất nhiều người trong quá khứ ra tay giúp anh. Anh đã sống cả đời mình như thế đó và chưa bao giờ anh nghĩ sẽ làm chuyện ngược lại.

Anh nói với bà cụ nếu bà thật sự muốn trả ơn cho anh thì lần khác khi bà biết ai cần được giúp đỡ thì bà có thể cho người ấy sự giúp đỡ của bà, và Bryan nói thêm: “Và hãy nghĩ đến tôi…”

Anh chờ cho bà cụ nổ máy và lái xe đi thì anh mới bắt đầu lên xe của mình đi về. Hôm ấy là một ngày ảm đạm và lạnh lẽo nhưng anh lại cảm thấy thoải mái khi lái xe về nhà.

Chạy được vài dặm trên con lộ, bà cụ trông thấy một tiệm ăn nhỏ. Bà ghé lại, tìm cái gì để ăn và để đỡ lạnh phần nào, trước khi bà đi đoạn đường chót về nhà. Đó là một nhà hàng ăn trông có vẻ không được thanh lịch. Bên ngoài là hai bơm xăng cũ kỹ. Cảnh vật rất xa lạ với bà. Chị hầu bàn bước qua chỗ bà ngồi, mang theo một khăn sạch để bà lau tóc ướt.

Chị mỉm cười vui vẻ với bà dù phải đứng suốt ngày để tiếp khách. Bà cụ để ý thấy chị hầu bàn này đang mang thai khoảng tám tháng gì đó nhưng dưới cái nhìn của bà, bà thấy chị không bao giờ lộ sự căng thẳng hay đau nhức mà làm chị thay đổi thái độ.

Rồi tự nhiên bà lại chợt nhớ đến anh chàng tên Bryan hồi nãy. Bà cụ vẫn còn thắc mắc, không hiểu tại sao một người nghèo đến độ thiếu thốn mà lại sẵn lòng giúp đỡ một người lạ như bà mà không đòi hỏi sự trả ơn chi hết?

Sau khi bà ăn xong, bà trả bằng tờ giấy bạc một trăm đô-la. Chị hầu bàn mau mắn đi lấy tiền để trả lại tờ bạc thừa của bà cụ nhưng bà cụ đã cố ý nhanh chân bước ra khỏi cửa rồi. Lúc chị hầu bàn quay trở lại thì bà cụ đã đi mất. Chị hầu bàn thắc mắc không biết bà cụ kia có thể đi đâu. Khi để ý trên bàn chị thấy có dòng chữ viết lên chiếc khăn giấy lau miệng…

Nước mắt vòng quanh khi chị đọc dòng chữ mà bà cụ viết: “Cô sẽ không nợ tôi gì cả. Tôi cũng đã ở vào tình cảnh thiếu thốn giống như cô. Có ai đó đã một lần giúp tôi giống như bây giờ tôi đang giúp cô. Nếu cô thực sự nghĩ rằng muốn trả ơn lại cho tôi thì đây là điều cô nên làm: Đừng để cho chuỗi tình thương này kết thúc ở nơi cô”.

Bên dưới tấm khăn giấy lau miệng bà cụ còn lót tặng thêm bốn tờ giấy bạc 100 USD.

Tối hôm đó, khi đi làm về và leo lên giường nằm, chị vẫn còn nghĩ về số tiền và những gì bà cụ đã viết cho. Làm thế nào mà bà cụ đã biết chị và chồng của chị hiện đang cần số tiền ấy?

Với sự sanh nở đứa bé vào tháng tới, điều ấy sẽ là khó khăn… Chị biết chồng chị lo lắng đến mức nào và trong lúc anh ta nằm ngủ cạnh chị, chị cho anh một cái hôn nhẹ và thì thào bên tai anh: “Mọi chuyện sẽ tốt đẹp cả. Em thương anh, Bryan, ạ!”

Người xưa dạy: “Gieo nhân nào gặp quả nấy”, hãy làm điều tốt thì sẽ gặp được chuyện tốt, dù bạn không trông thấy họ nhưng họ luôn luôn có mặt ở đâu đó!

Theo happynewyear

(Tinh Hoa)
 Báo ơn cha mẹ là chuyện của một đời chứ đâu chỉ một ngày, nhưng chẳng phải cũng nên dành một ngày trọn vẹn về ngẫm nghĩ nhiều hơn về điều đó.
    
Valentine (14/2), giáng sinh (25/12)… đã trở thành những ngày quá quen thuộc với giới trẻ Việt. Nó được mặc định là ngày của tình yêu, ngày của những bó hoa, món quà và ngày của những lời “mật ngọt”. Trong những ngày này, đâu đâu cũng thấy tình yêu nảy nở, từ đường phố, rạp chiếu phim cho đến mạng xã hội... đến mức những ai còn FA phải ghen tị mà thốt lên “bội thực tình yêu”.

Nhưng có mấy ai biết đến ngày lễ Vu Lan (15/7 âm lịch)? Mấy ai biết đây là ngày báo hiếu, báo ơn cha mẹ, ngày trở về nói đôi lời yêu thương với đấng sinh thành? Mấy ai biết, trong ngày này nên có một bông hồng cài áo, hồng đỏ dành cho những người còn cha mẹ, hồng trắng dành cho những bậc sinh thành đã khuất?

le vu lan, co bao nhieu nguoi lay bong hong cai ao? - 1
                           Bông hồng đỏ cho những ai còn mẹ trong lễ Vu Lan (ảnh minh họa)

Còn nhớ, dịp Tết 2015, trong một clip quảng cáo, một số bạn trẻ Việt được yêu cầu gọi điện về nói lời yêu thương cha mẹ. Thật kỳ lạ, chỉ với ba từ đơn giản “con yêu cha/mẹ” mà hầu hết các bạn trẻ phải hít vào, thở ra, lấy hết can đảm mới thốt lên thành lời. Còn các bậc cha mẹ thì hết ngỡ ngàng đến ngạc nhiên, thậm chí còn không tin vào tai mình khi nhận được lời yêu thương từ con cái. Clip đó chỉ sau 4 tuần xuất hiện đã thu hút hơn 3 triệu lượt xem cùng hàng nghìn chia sẻ, bình luận.

Có lẽ không ít người thắc mắc, tại sao câu nói chỉ vỏn vẹn 3 từ mà khó nói ra đến thế? Đơn giản bởi nó không được nói thường xuyên, thậm chí với một số người đó còn là “lần đầu”, mà lần đầu của thứ gì chẳng khó khăn, e ngại.

Cha mẹ sinh thành, dưỡng giục con cái không chỉ vì trách nhiệm mà còn vì tình yêu thương vô bờ bến, cho đi không hòng nhận lại. Một chuyên gia tâm lý trong khi nói về công ơn cha mẹ đã đặt ra ba câu hỏi: “Ai có thể nuôi ta một bữa cơm/10 ngày cơm/1 năm/20 năm/40 năm?”; “Khi ta thất bại, đau khổ, chán chường, mệt mỏi, đâu là chốn bình yên ta có thể trở về?”; “Sau tất cả những lỗi lầm, đâu là nơi vẫn đón nhận và tha thứ cho ta?”. Vỏn vẹn có vậy đã đủ nói lên tấm lòng vĩ đại của đấng sinh thành.

Về phía con cái, họ đón nhận tình yêu thương đó như một điều hiển nhiên, dù có nói yêu, có tặng quà, có bày tỏ tình cảm hay không thì thứ họ nhận được vẫn là sự chăm lo không tính toán của cha mẹ. Có bao nhiêu người trong chúng ta từng 5 ngày tiệc lớn, 3 ngày tiệc nhỏ nhưng cả tháng không có nổi bữa cơm chung cùng cha mẹ;  có thể bỏ ra cả số tiền lớn để mua quà nịnh người yêu nhưng chưa từng mua được cho cha mẹ một bó hồng… Ấy vậy mà chỉ cần nói: “hôm nay con sẽ về”, là đã biết chắc có một mâm cơm tinh tươm, nóng hổi đang chờ ở nhà.

Nhưng như vậy không có nghĩa là các bậc sinh thành không cần được nghe, được thấy tình yêu con cái dành cho mình. Họ cho đi không tính toán, nhưng họ đáng được nhận lại, dù đó chỉ là một câu nói yêu thương. Vì thế đừng ngại ngùng, đừng lo mình đang sến súa.

Nhưng cũng hãy nói sao để cha mẹ có thể nghe thấy. Đừng chỉ trăn trở, thổn thức, rơi nước mắt trên “phây”. Những dòng trạng thái mùi mẫn như: “Yêu mẹ nhất trên đời”, “Con nhớ cha nhiều lắm” hay những hình ảnh cảm động, những câu chuyện đẫm nước mắt về tình phụ mẫu trên Facebook thật khó để cha mẹ đọc được. Bạn có thể gõ phím, có thể like (thích)… nhưng ngay sau đó hãy chạy về nhà, hãy nhấc máy lên và gọi điện cho mẹ nói những điều bạn vừa viết ra. Cha mẹ cần những điều đơn giản lắm, đó là nhìn thấy khuôn mặt bạn, nghe được giọng nói bạn.

Mùa Vu Lan đang đến gần, hãy can đảm nói “con yêu cha/mẹ”, hãy nghĩ đơn giản đó chỉ là cách lấy hơi từ thanh quản rồi phát âm thành giọng nói. Nếu bận rộn, nếu ngượng ngùng… nếu không thể nói câu đó trong 365 ngày thì chẳng phải đã có riêng một ngày đúng dịp, đúng nghĩa để làm điều đó?

Hạ Nhiên

(Dân Việt)
Một cảnh trong phim Titanic (Ảnh: Internet)
                                          Một cảnh trong phim Titanic (Ảnh: Internet)

Con tàu Titanic huyền thoại đã chìm vào đáy đại dương, để lại sau lưng cả một di sản!

Đó là những món nợ, những món tiền đầu tư, những món tiền bảo hiểm. Để cho chúng ta thấy tiền bạc cũng chẳng thể cho người ta cảm giác an toàn.

Đó là những bài học về sự tự mãn, khi con người bồng bột nghĩ rằng có thể chiến thắng tự nhiên và tuyên bố Titanic “không bao giờ chìm”.

Đó là những nỗi đau, khi hàng nghìn con tim, hàng trăm gia đình bị mất mát.

Nhưng có một di sản, vượt lên trên những bài học về tiền bạc và sự tự mãn, vượt lên trên những nỗi đau… Một di sản mà mỗi chúng ta ngày nay vẫn đang phải lựa chọn. Di sản đó thể hiện qua câu nói:

“Phụ nữ và trẻ em lên trước!”

Khi hiệu lệnh đó vang lên, nhiều người đã rời xa thuyền cứu hộ, đứng lặng lẽ, chậm rãi dựa lên tay vịn. Họ bắt đầu châm những điếu thuốc và hút. Nhiều hành khách lặng đi, không muốn chứng kiến sự chia ly của các gia đình. Dù là người nổi tiếng hay kẻ vô danh, những hành khách dũng cảm đã để lại cho nhân loại một di sản to lớn.

(Ảnh: encyclopedia-titanica.org)
Bức tranh “Phụ nữ và trẻ em lên trước!” làm sững sờ công chúng khi ra mắt năm 1912 (Ảnh: encyclopedia-titanica.org)

John Jacob Astor IV là một nhà kinh doanh, nhà phát minh, nhà văn nổi tiếng, một trong những người giàu nhất thế giới bấy giờ. Ông đã đưa người vợ mang thai 5 tháng của mình lên thuyền cứu hộ, rồi lịch sự nhường chỗ của mình bằng cách dịu dàng nói với hai người phụ nữ đứng cạnh: “Các quý cô, mời lên thuyền”.

Trong khi có những người vội vã leo lên thuyền cứu hộ thì nhà tỷ phú Ben Guggenheim cùng thư ký Victor Giglio đã thản nhiên ở lại tàu. Ông gửi lời nhắn tới vợ mình: “Không có phụ nữ nào sẽ phải ở lại tàu chỉ vì Ben Guggenheim là một kẻ hèn kém”.

Doanh nhân nổi tiếng Isidor Straus cùng vợ mình đã ở lại trên tàu. Ông nói: “Tôi sẽ không đi khi những người đàn ông khác còn đang ở lại.” Còn vợ ông, quý bà Ida thì khẳng định: “Tôi sẽ không rời khỏi chồng mình. Chúng tôi sẽ chết như chúng tôi đã sống cùng nhau.” Họ đã nắm tay nhau cho đến giây phút cuối cùng.

Michel Marcel Navratil và người em trai là hai đứa trẻ duy nhất sống sót sau thảm họa mà không có người thân đi cùng. Ông nhớ lại việc cha đưa hai anh em ông lên thuyền cứu hộ và nhắn nhủ: “Con trai, khi con gặp mẹ, và chắc chắn là con sẽ gặp mẹ, hãy nói với mẹ rằng cha luôn yêu mẹ.”

Cảnh tàu Titanic từ từ chìm xuống biển (Ảnh: Willy Stöwer, Wikimedia)
                        Cảnh tàu Titanic từ từ chìm xuống biển (Ảnh: Willy Stöwer, Wikimedia)

Một nhân chứng người Thụy Sĩ kể lại việc cô bồng hai đứa con lên thuyền cứu hộ, nhưng không còn đủ chỗ cho bản thân. Một người phụ nữ đã đứng lên nhường chỗ cho cô và nói: “Ngồi đi, những đứa trẻ không thể thiếu mẹ!” Cô hối tiếc vì lúc đó đã không hỏi tên bà.

Khi phần đuôi tàu bắt đầu chìm vào mặt nước, vào đúng khoảnh khắc đó, người ta có thể nghe thấy những lời yêu thương đang vang lên. Chỉ để nói lên rằng, tôi đã yêu bạn đến nhường nào.

Những gì còn lại của con tàu Titanic huyền thoại (Ảnh: NOAA/IFE/URI, Wikimedia)
            Những gì còn lại của con tàu Titanic huyền thoại (Ảnh: NOAA/IFE/URI, Wikimedia)

“Phụ nữ và trẻ con lên trước!” – Đó là lệnh của thuyền trưởng. Nhưng tại sao mọi người lại tuân theo? Không có bất cứ điều lệ nào bắt buộc người ta phải làm thế. Không ai có quyền yêu cầu người khác phải từ bỏ sinh mạng của mình. Không có một logic nào về mặt thể lực hay kinh tế để những con người vốn khỏe mạnh và giàu có hơn lại nhường chỗ cho những người yếu hơn được sống.

Nếu có ai đó hỏi rằng, nhân loại có gì đặc biệt? Xin được trả lời rằng: Nhân loại đặc biệt vì chúng ta có thể hy sinh cả mạng sống của bản thân cho những con người không quen biết.

Quang Minh

(Đại Kỷ Nguyên VN)
Bee Gees, ba nhân tài ghép lại thành một huyền thoại
                                Robin, Barry và Maurice Gibb, ba thành viên nhóm Bee Gees

Tháng 5 năm 2012 quả thật là thời điểm không may đối với làng nhạc quốc tế. Chỉ trong chưa đầy một tuần mà có đến hai tên tuổi lớn đột ngột từ trần. Sau nữ hoàng disco Donna Summer, lại đến phiên Robin Gibb, một trong ba thành viên sáng lập ban nhạc Bee Gees, vĩnh viễn ra đi. Cơn sốt đêm thứ bảy giờ đây hạ nhiệt.

Bee Gees là ký hiệu viết tắt của Brothers Gibb có nghĩa là anh em nhà họ Gibb, gồm ba anh em ruột là Barry, Robin và Maurice. Trong ban tam ca này, có hai giọng ca chính, nhưng do Robin không bảnh trai bằng người anh là Barry, cho nên trên các hình bìa đĩa hát, Robin ít khi nào được đặt ở giữa, trong khi Barry lại được đẩy lên đầu, trở thành tâm điểm của nhóm.

Nhưng công bằng mà nói thì trong ba anh em, Robin Gibb là người có chất giọng rất sang, vibrato trong sáng. Với âm vực sâu rộng, Robin có thể rung giọng kim đầy đặn, luyến láy khỏe khoắn ở những nốt nhạc cao nhất mà vẫn không hụt hơi. Nhờ vào kỹ thuật luyện thanh, mà chất giọng của Robin càng thanh thoát bay bổng, hát chính cũng hay mà ca bè cũng giỏi. Cách nhả chữ của Robin rõ trong từng ca từ, bén trong mỗi âm sắc. So với người em trai, Barry Gibb thường hay hát chẻ giọng óc (falsetto). Nhưng bù lại Barry cũng như Maurice lại có cái tài viết ca từ và soạn giai điệu.

Về phần hòa âm, phối khí thì Maurice là người sành nhạc lý hơn cả, do biết chơi nhiều nhạc khí khác nhau, cho nên anh thường là người sắp đặt các bản dàn bè, phân đoạn lối hợp xướng để rồi ứng dụng cách hòa âm hầu làm nổi bật các phần đơn diễn hay đồng ca. Mỗi người một nét nhưng có thể nói là ban tam ca Bee Gees là một thực thể liền khối, quyện chặt vào nhau cho nên khó thể tách rời. Bằng chứng là Robin và Barry từng có giai đoạn hát solo, nhưng không thành công bằng thời kỳ hát chung của nhóm.

Sinh tại Isle of Man, một hòn đảo nằm giữa Anh Quốc và Ai Len, ba anh em nhà họ Gibb theo gia đình sang Úc định cư. Họ khởi đầu sự nghiệp từ năm 1959 tại bang Quensland, bên Úc, chọn Bee Gees làm nghệ danh và trình làng album đầu tay vào năm 1963. Đến Luân Đôn lập nghiệp từ năm 1967, nhóm này gây ấn tượng mạnh với bài To Love Somebody, để rồi trong hai năm liền ngự trị trên đỉnh cao với một loạt ca khúc như Holiday, Massachusetts, Words và I Started a Joke.

Trong giai đoạn này, những bản nhạc ăn khách của nhóm Bee Gees thường do Robin Gibb ghi âm với tư cách là giọng ca chính. Mãi đến vài năm sau đó, khi phong trào nhạc disco trở nên cực thịnh, thì lúc đó cách hát chẻ giọng óc của Barry mới được tận dụng, lối hát bè của nhóm được phát huy trọn vẹn, vừa tinh tế vừa phức hợp, xen kẽ giọng chính với ca bè, lúc thì đồng thuận, khi thì đối nghịch.

Tất cả những yếu tố này cộng hưởng thêm với các giai điệu du dương ngọt ngào, một lối hòa âm quyền quyện lớp lớp, tạo ra hiện tượng Bee Gees, ban tam ca xuất sắc nhất mọi thời đại. Từ những năm 1974-1975 trở đi, nhóm Bee Gees chuyển từ nhạc pop sang nhạc kích động (với Jive Talking) để rồi trở thành ban nhạc ăn khách nhất trong ba năm liền từ năm 1977 đến 1980 với ngày phát hành bộ phim Saturday Night Fever.

Giai đoạn thứ nhì cũng là thời kỳ thành công nhất trong sự nghiệp của nhóm. Các bài hát mà Bee Gees đã sáng tác cho cuộn phim này kể cả các bản nhạc slow và ca khúc với nhịp điệu kích động, chẳng những lập kỷ lục số bán mà còn tạo ra khuôn thước trong cách soạn giai điệu.

Với ban nhạc Bee Gees, trình độ của nhạc disco được tăng thêm một bậc, còn lối hát bè thì được nâng lên hàng nghệ thuật. Khép lại giai đoạn này có các bản kích động như Stayin’ Alive hay Tragedy, các tình khúc cực kỳ lãng mạn như How Deep is Your Love hay là Too Much Heaven.

Từ những năm 1980 trở đi, nhóm Bee Gees cũng khá thành công với việc sáng tác cho nhiều nghệ sĩ tên tuổi khác trong đó có Barbra Streisand (Woman in Love), Diana Ross (Chain Reaction), Dionne Warwick (Heartbreaker) và gần đây hơn nữa là Celine Dion (Immortality). Nhưng vào cuối những năm 1980, sự nghiệp của nhóm bắt đầu đi xuống cho dù Bee Gees chuyển sang pop rock, nối lại với nhạc nhẹ trong cách viết tình khúc.

So với các thập niên trước, thời mà Bee Gees giành lấy 14 lần ngôi vị quán quân thị trường Anh Mỹ, thì từ những năm 80 trở đi, ban tam ca này chỉ một lần chiếm hạng đầu thị trường Hoa Kỳ (với nhạc phẩm You Win Again -1987) Trong nửa thế kỷ sự nghiệp ca hát, nhóm Bee Gees đã đoạt 9 giải Grammy, trong đó có 3 giải thành tựu sự nghiệp và 6 giải dành cho album và giọng ca pop xuất sắc nhất trong hai năm liền 1978-1979. Ban nhạc này cũng đã bán trên dưới 240 triệu tập nhạc trên toàn thế giới, kể cả album studio (22), nhạc live và nhạc phim.

Từ ba thành viên sáng lập ban đầu, Bee Gees nay chỉ còn có một gương mặt duy nhất là Barry Gibb, cho dù theo tiết lộ của anh trong cuộn phim tài liệu From Our Own Time quay vào năm 2010, nhóm này vẫn còn một số ca khúc dở dang. Dự án quay phim về cuộc đời và sự nghiệp của nhóm do đạo diễn kỳ cựu Steven Spielberg xúc tiến, có nguy cơ bị gián đoạn.

Hầu hết các kế hoạch của nhóm Bee Gees đều bị lỡ làng, sau khi Maurice qua đời vào năm 2003, nay với ngày ra đi của Robin coi như là hoàn toàn tiêu tan. Nhờ vào công nghệ âm thanh hiện đại, người ta có thể làm sống lại một tiếng hát trong phòng ghi âm nhờ vào kỹ thuật song ca ảo. Nhưng riêng về điểm này, chưa chắc gì Barry Gibb muốn tiếp nối con đường khi chỉ còn một mình.

Vì cũng như anh đã từng tuyên bố từ năm 2003 là rất khó thể nào mà duy trì ban nhạc Bee Gees vì tên tuổi của nhóm gắn liền với ba thành viên, không hơn không kém. Kể từ nay, Barry Gibb chỉ còn có thể duy trì sự nghiệp solo, vì hơn ai hết anh thừa biết rằng một cánh én không làm nổi mùa xuân. Sự nghiệp của Bee Gees được kéo dài, tên tuổi có đi vào huyền thoại, trước hết là nhờ vào ba tài năng ghép lại.

Tuấn Thảo

(RFI)
35 năm giai thoại Woman in Love
Barbra Streisand hợp tác với Bee Gees sau khi xem nhóm này biểu diễn vào năm 1979 tại Madison Square Garden (DR)PodcastTải nạp chương trình này

Sinh thời, ngoài là một ban nhạc nổi tiếng trên thế giới, ban tam ca Bee Gees còn viết khá nhiều ca khúc ăn khách cho các nghệ sĩ khác. Tình khúc Woman in Love (Người đàn bà đang yêu) nằm trong số này do ba anh em nhóm Bee Gees sáng tác cho Barbra Streisand vào năm 1980, tức cách đây đúng 35 năm.


Vào cuối những năm 1970, ban tam ca Bee Gees ngự trị trên đỉnh cao làng nhạc quốc tế. Ban nhạc này là nhóm đầu tiên và cũng là duy nhất có tới năm bài hát có mặt trong Top Ten vào cùng một thời điểm, nhờ vào album (phát hành vào năm 1977) mà họ sáng tác cho bộ phim Saturday Night Fever (Cơn sốt chiều thứ bảy). Ý tưởng hợp tác với nhóm Bee Gees nảy sinh vào năm 1979, khi Barbra Streisand được xem ban tam ca này biểu diễn ngày 8 tháng Chín năm 1979 tại nhà hát Madison Square Garden.

Lúc đầu, Barbra Streisand nghĩ rằng ban tam ca Bee Gees chỉ sáng tác cho mình vài ca khúc, bất ngờ thay, sau một thời gian suy nghĩ, ban nhạc người Úc lại đồng ý soạn cho diva người Mỹ trọn một album mang tựa đề là Guilty gồm tổng cộng 9 nhạc phẩm. Ca khúc đầu tiên của album này được phát hành vào tháng Tám, nhạc phẩm Woman In Love (Người đàn bà đang yêu) trở thành tình khúc của mùa hè năm 1980, sau khi giành lấy ngôi vị quán quân (ba tuần lễ), bài hát còn trụ lại trong bảng xếp hạng thị trường Hoa Kỳ trong 47 tuần liên tục.

Trong ba anh em nhóm Bee Gees, Barry Gibb là nhân vật đã đóng vai trò quan trọng nhất. Trên album Guilty (do Albhy Galuten và Karl Richardson hợp tác sản xuất), Barry Gibb đã soạn nhạc cho cả 9 bài hát, đồng thời anh song ca với Barbra Streisand hai bài (ca khúc chủ đề Guilty và nhạc phẩm What Kind of Fool), trong khi hai người em là Maurice và Robin Gibb chỉ tham gia sáng tác trong bốn bài, trong đó có Woman in Love do Robin đồng sáng tác toàn bộ phần điệp khúc với người anh trai là Barry Gibb. Một bài hát mà sau đó có tới hàng trăm phiên bản ghi âm (cover) trong nhiều thứ tiếng khác nhau.

Hồi tưởng lại giai đoạn này, nam ca sĩ Barry Gibb thành viên duy nhất còn sống trong nhóm Bee Gees cho biết : ban đầu anh rất hồi hộp căng thẳng khi được mời hợp tác với một trong những giọng ca lẫy lừng nhất nước Mỹ thời bấy giờ. Vả lại trong giới chuyên nghiệp, Barbra Streisand nổi tiếng là một diva cầu toàn kỹ tính, nóng nảy nên dễ đâm ra gắt gỏng.

Điều đó giải thích vì sao trước khi nhận lời hợp tác với Barbra Streisand, Barry Gibb đã gọi điện để hỏi chuyện với nam danh ca Neil Diamond, do hai ca sĩ này từng ghi âm với nhau vào cuối năm 1978 (bài song ca You Don't Bring Me Flowers được phát hành vào tháng 10 năm 1978). Thế nhưng những lời khuyên nhủ của Neil Diamond vẫn không trấn an được Barry Gibb, do anh luôn có tâm trạng bồn chồn lo lắng.

Nhưng rốt cuộc, đó chỉ là những lời đồn đại trong nghề, vì trong suốt thời gian làm việc với nhau, nữ danh ca Barbra Streisand đã rất tử tế với các bạn đồng nghiệp. Điều mà sau này được công nhận bởi nhà nhiếp ảnh Mario Casilli, người đã từng thực hiện loạt ảnh chụp để chuẩn bị cho việc phát hành album mang tựa đề Guilty của Barbra Streisand, sau khi phần ghi âm được hoàn tất vào tháng Sáu Ba tại phòng thu Sound Labs Studio ở thành phố Los Angeles.

Theo lời Barry Gibb, ngoài cách đối xử tốt với bạn đồng nghiệp, Barbra Streisand còn là một người cần mẫn chăm chỉ, chịu khó làm việc từ 7 giờ sáng cho tới tối khuya, cô tập trung làm việc cho phần ghi âm album, và chỉ mỗi khi tới giờ giải lao, cô mới làm những công việc khác, trong đó có việc chăm chút chỉnh sửa kịch bản của Yentl, một bộ phim ca nhạc phóng tác từ truyện ngắn The Yeshiva Boy của nhà văn Isaac Bashevis Singer. Barbra Streisand thực hiện bộ phim Yentl vào năm 1983, trong đó cô vừa đóng vai chính (diễn viên kiêm ca sĩ) vừa đảm nhận vai trò đạo diễn.

Nhờ vào sự hợp tác với nhóm Bee Gees, mà tập nhạc Guilty trở thành một tring những album ăn khách nhất trong sự nghiệp của Barbra Streisand với hơn năm triệu bản chỉ riêng trên thị trường Hoa Kỳ, 12 triệu trên toàn thế giới. Vào năm 1981, album này cũng đoạt được một giải Grammy trên tổng số năm đề cử. Để thực hiện tập nhạc Guilty, Barry Gibb đã ghi âm thử nhiều bản demo, nhưng rốt cuộc chỉ có 9 bài được giữ lại, các bài hát kia (chẳng hạn như Secret hay là Carried Away) sẽ được tặng sau đó cho các nghệ sĩ khác (trong đó có Elaine Paige và Olivia Newton-John).

Trong số 9 bài của Bee Gees mà Barbra Streisand đã ghi âm, tình khúc Woman In Love là một trong những bài ăn khách nhất. Barry Gibb từng ghi âm thử bài này dưới dạng demo, và trở thành giọng nam duy nhất có thể hát từ đầu tới cuối bằng giọng óc. Theo đề nghị của Robin, hai anh em mới chỉnh sửa phần điệp khúc sao cho vừa với giọng ca khỏe khoắn cũng như làn hơi đầy đặn của Barbra Streisand.

Ở đoạn giữa bài hát, trong hai câu "I stumble and fall, but I give you it all", Barbra Streisand giữ làn hơi trong vòng khoảng 10 giây mà không bị đuối hơi. Điều đó khiến cho Casey Kasem, người phụ trách chương trình phát thanh American Top 40 cho rằng đây là nốt nhạc dài nhất bởi một giọng ca solo. Tuy nhiên, điều này sau đó được cải chính vì vào thời đó, cũng có một số bản nhạc khác đều có cách hát những nốt dài như vậy (tiêu biêu là các bài Lovely Day của Bill Withers, All Out Of Love của nhóm Air Supply và Dim All The Lights của nữ hoàng disco Donna Summer).

Trong vòng ba thập niên liền, tình khúc Woman In Love đã có rất nhiều phiên bản khác nhau, kể cả tiếng Pháp (Une Femme Amoureuse), tiếng Đức (Die Frau die Diech Liebt), tiếng Ý (Donna Innamorata), Hà Lan, Hy Lạp (To Ksero Tha’rthis Ksana), Bồ Đào Nha hay Tây Ban Nha (Enamorado de Ti) và thậm chí Ả Rập ….. bài hát cũng được hòa âm phối khí theo nhiều thể điệu, đôi khi nghe khá lạ, kể cả các điệu bolero, salsa và zouk.

Trong tiếng Việt bài Woman in Love có ít nhất là hai hay ba lời khác nhau, được các tác giả chuyển ngữ thành ‘‘Người đàn bà đang yêu’’ hay là ‘‘Đi tìm tình Yêu’’ với những câu mở đầu như : Lấp lánh ánh trăng soi bên hồ / Áng mây lững lờ, bóng anh khuất xa mờ ….. hoặc là : Kiếp sống sẽ cô đơn muôn vàn / Trái đất kia hoang tàn, nếu những mơ ước không còn, mà các nghệ sĩ như Hoạ Mi, Khánh Hà, Ngọc Lan, Thu Minh, Loan Phương …. đều từng trình bày ….

Có một điều rất lạ là tuy nhạc phẩm Woman in Love là một trong những tình khúc ăn khách nhất trong đời, nhưng Barbra Streisand từng cho biết cô không thích bài hát này vì trong thâm tâm, cô không tin vào ý nghĩa của bài hát, có lẽ cũng vì thế mà trên sân khấu, ít khi nào cô hát lại bài này.

Không tin mà đã hát hay như vậy, giả sử như mà Barbra Streisand thật sự tin vào ca khúc thì không biết là Woman in Love sẽ mãnh liệt cháy bỏng tới cỡ nào. Người đàn bà khi yêu sẽ yêu một cách tuyệt đối, cho con tim thổn thức đắm đuối, tuy tâm hồn sa đọa bồi hồi, dù đam mê đầm mình tội lỗi

Tuấn Thảo

(RFI)